mở đầu cuộc Chiến tranh thế Biới thứ H. Quân đội Đức đã nhanh chóng đè bẹp quân đội Ba Lan và chiếm đóng đất nước này. Chính phủ tư sản và một số sỹ quan Ba Lan chạy ra nước ngoài, lập chính phủ lưu vong ở Pháp, sau chuyển sang Anh. Trong lúc đó, những lực lượng yêu nước mà nòng cốt là Đảng Cong san, da bi mat to chức du kích, đấu tranh vũ trang ở trong nước một cách kiên Cường.
Hồng quân Liên Xô tiến vào giải phóng Ba Lan, da giúp đỡ lực lượng kháng chiến ở trong nước lập ra Uy ban Giải Sd ir 180-182 20 ›hóng đân tộc Ba Lan, do các đảng viên cộng sản lãnh đạo đóng trụ sở ở Cheem (sau đó chuyển về Lublin), và ngày 31/12/1944 đối thành Chính phủ lâm thời Cộng hoà Ba Lan đặt trụ sở tại Vác-sa-va. Như vậy, vào thời điểm được hoàn toàn giải phóng, Ba Lan có hai chính phủ: một chính phủ lưu vong được Mĩỹ - Anh hậu thuẫn; và một chính phủ cách mạng trong nước được Liên Xô giúp đỡ. Bat đầu một cuộc đấu tranh giành chính quyền hết sức gay go va quyét liệt. Cuộc đấu tranh này dẫn đến việc thành lập chính phủ liên hiệp ngày 29/6/1945 gọi là: “Chính phủ lâm thời đoàn kết dân tộc Ba Lan” do Osubka (lãnh tụ Đảng Xã hội) làm chủ tịch và Gomalka (lãnh tụ Đảng Cộng sản), Mikolajezuk (đại diện cho các lực lượng lưu vong) làm phó chủ tịch.
Chính phủ này đã được các nước phương Tây thừa nhân. Trong thời kỳ chuyến biến cách mạng dân chủ nhân dân sang cách mạng XHCN, cuộc đấu tranh giai cấp ở Ba Lan trở nên hết sức gay gắt. Đầu năm L947, trong cuộc bầu cử vào Quốc hội, hai Đảng Cộng sản và Xã hội Dân chủ liên mình với nhau và giành được 85% số phiếu. Chuyên chính vô sản được thiết lập dưới hình thức dân chủ nhân dân.
Tháng 12/1948, tại Đại hội thống nhất đảng Công nhân Ba Lan va đảng Xã hội Ba Lan đã dẫn tới thành lập Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan trên nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin, hoàn thành quá trình đấu tranh để thành lập Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan đi theo con đường xã hội chủ nghĩa”, * Ra đời nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khác. Trước chiến tranh, Tiệp Khác vốn là đồng minh lâu đời của Pháp và Anh, nhưng Chính phủ hai nước này đã bán đứng lợi ích của nhân dân Tiệp Khắc cho phát-xít Đức thông qua Hiệp ước Mu- nịch 30/9/1938. Hệ quả chính sách Mu-nich của các nước phương Tây là nước Công hoà Tiệp Khác bị phát-xít Đức thôn tính. Tổng thống Be-net phải từ chức và chạy ra nước ngoài lập chính phủ lưu vong ở Luân Đôn.160-165, Trong khi đó, ở trong nước Tiệp Khắc, các lực lượng kháng chiến chống phát-xít vẫn hoạt động, tuy không được mạnh như ở các nước khác.
Khi quân đội Liên Xô tiến vào giải phóng Tiệp Khác thì các lực lượng kháng chiến trong nước cũng thành lập chính quyền với rất nhiều đảng viên cộng sản tham gia ở tất cả các cấp. Chính phủ lưu vong Be-net của giai cấp tư sản về nước sau chiến tranh đã tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội tháng 6/1946. Đảng Cộng sản và các lực lượng dân chủ tuy đã được củng cố và tăng cường, nhưng vẫn chỉ giành được 1/3 số ghế trong Quốc hội. Chính phủ liên hiệp đã được thành lập do Be-net làm Tổng thống và Klê-ment Gối-van, lãnh tụ Đảng Cộng sản làm Thủ tướng.
Đại đa số bộ trưởng trong Chính phủ vẫn do người của đảng tư sản Be-net nắm giữ. Dựa vào quần chúng nhân dân và các lực lượng cảnh sát và dân quân mà Đảng Cộng sản nắm được, chính phủ của Thủ tướng Gốt-van đã tiến hành một số cải cách tiến bộ, đặc biệt là chính sách quốc hữu hoá nên công nghiệp Tiệp Khắc. Nhưng chính sách cải cách cấp tiến của Thủ tướng Gốt-van đã bị các bộ trưởng tư sản phản đối. Ngày 20/2/1948, 12 bộ trưởng tư sản trong chính phủ đồng loạt từ chức nhằm gây sức ép buộc Thủ tướng Gốt-van phải từ chức.
Đảng Công sản Tiệp Khác, với sự giúp đỡ của Liên Xô lúc này lớn mạnh rất nhiều, đã huy động quần chúng xuống đường ủng hộ Thủ tướng Gốt-van, trấn áp các lực lượng phản động, đòi Tổng thống Be-net phải chỉ định Gốt-van tiếp tục làm Thủ tướng và thành lập chính phủ mới. Trước đòi hỏi mạnh mẽ của quần chúng, Tống thống Be-net buộc phải chấp nhận cho các bộ trưởng nghỉ và công nhận thành phần mới của chính phủ Gốt-van. Chính phủ mới thúc dấy mạnh mẽ cải cách kinh tế xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa, kết thúc giải đoạn chuyển từ cách mạng dân chủ nhân dân sang cách mạng XHCN. Quốc hội thông qua hiến pháp mới và bầu Gốt-van làm Tổng thống”'.
tr, 167-176 bo ho * Thành lập nước Cộng hoà dân chủ Đức. Tỉnh hình ở nước Đức sau thất bại của phát-xít Hít-le trở nên hết sức phức tạp, phản ánh một cuộc chiến tranh mới giữa CNXH va CNTB. Trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh bắt đầu xuất hiện “Vấn để Đức” sẽ được xem xét ở phần sau. Kết quả bước đâu của việc giải quyết vấn để này là sự ra đời của Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức ngày 7/10/1949.
Với cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội Cộng hoà Dân chủ Đức trở thành nước cuối cùng ở Đông Âu đi theo con đường XHCN. Nước Công hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật, hai lực lượng chính trị lớn nhất ở Trung Quốc là Đảng Cộng sản và Đảng Quốc dân đã hợp tác để chống quân xâm lược. Nhưng đến khi Nhật đầu hàng, kẻ thù chung của dân tộc đã bị dánh bại thì mâu thuẫn giữa hai Đảng lại công khai bộc lộ và cuộc đấu tranh để giành quyền lực lại nổ ra gay gắt.
Ngay khi quân Nhật vừa đầu hàng thì hai Đảng Cộng sản và Quốc dân đều ra sức mở rộng ảnh hưởng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giành quyền thống trị tại đất nước đông dân nhất thể giới này. Hai cường quốc có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình Trung Quốc lúc bấy giờ là Liên Xô và Mỹ. Do không đủ sức để loại bỏ ảnh hưởng của nhau ở đây, nên cả Liên Xô và Mỹ đều mong muốn có hoà bình ở đất nước rộng lớn này nhằm biến Trung Quốc thành một nước đệm giữa họ. Trước khi Liên Xô tham chiến chống Nhật, tháng 7/1945 Ngoại trưởng Trung Hoa Quốc dân đảng (QDĐ) là Tống Tử Văn đến Liên Xô và hai bên đã ký một loạt hiệp định (hiệp định Xô-Trung ngày 14/8/1945)", với nội dung bao gồm việc thiết lập liên minh chống tr.
Lịch xử ngoại giao. Nhật, thừa nhận chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc; đồng thời tôn trọng những quyền lợi của Liên Xô ở Mãn Châu. Sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng, kết thúc CTTG-H, Hồng quân Liên Xô rút khỏi Mãn Châu để lại rất nhiều vũ khí thu được của Nhật cho Giải phóng quân Trung Quốc, đồng thời cũng bàn giao vùng Đông-Bắc Trung Quốc, một vùng công nghiệp có vị trí chiến lược quan trọng, cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền cách mạng quản lý. Liên Xô và Mỹ đều mong muốn Quốc - Cộng tiếp tục hợp tác và thiết lập ở Trung Quốc một Chính phủ liên hiệp, nhưng cả hai bên Cộng sản và Quốc đân đảng sau nhiều vòng đàm phán đều không thể đi đến một thoả thuận nào.
Ngày 27/11/1945 Tổng thống Mỹ Truman đã cử đặc phái viên Georges Marshall, Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh, đến Trung Quốc làm trung gian hoà giải Quốc-Cộng, nhưng mặt khác vẫn để cố vấn quân sự và cung cấp cho Quốc dân đẳng nhiều vũ khí và vật liệu chiến tranh. Với chủ trương dùng vũ lực để khuất phục Đảng Cộng sản và thống nhất đất nước, Tưởng Giới Thạch huỷ bỏ đàm phán, tuyên bố cất đứt quan hệ với Đảng Công sản và phát động một cuộc tiến công toàn diện vào khu vực do Đảng Cộng sản kiểm soát. Tháng 3/1947, quân QDĐ chiếm được Diên An, thủ đỏ của căn cứ Đảng Cộng sản. Tuy nhiên đây là thắng lợi cuối cùng của phe Tưởng, quân Giải phóng nhân dân bắt đầu phản công và liên tiếp giành thắng lợi.
Mùa hề năm 1947, Đảng Cộng sản khống chế gần như toàn bọ Mãn Châu và tiếp tục tiến xuống phía Nam. Tháng 4/1949, quân Giải phóng nhân dân tiếp tục tiến công, vượt sông Dương Tử và giải phóng Nam Kinh, thủ đô của Quốc dân đảng, và đến tháng 9/1949 thì toàn bộ đại lục Trung Hoa đã được giải phóng. Tàn quân QDĐ rút chạy ra đảo Đài Loạn. Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập ngày 1/10/1949 và ngay lập tức được Liên Xỏ và các nước xã hội chủ nghĩa khác công nhận.
24 Như vậy cho đến cuối năm 1949, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã hình thành, bao gồm hầu hết các nước ở Đông Au và Trung Quốc ở châu Á, với số dân trên | tỷ người. Ngoài ra, tại khu vực Đông Á còn có Bắc Triều Tiên và Việt Nam bằng những hình thức khác nhau cũng dần dần chuyển từ cách mạng giải phóng dân tộc sang cách mạng XHCN. Như ở Việt Nam, ngay trong quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp tái hấn, chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản đã đồng thời thực hiện các cải cách dân chủ và, ngay sau khi hoà bình được lập lại (năm 1954), các biện pháp để chuẩn bị cho giai đoạn xây. dựng CNXH trên miền Bắc cũng được thực hiện.
Quá trình phát triển của cách mạng ở các nước dan chủ nhân dân châu Âu và châu Á chứng minh lời tiên đoán của Lê-nin là tất cả các dân tộc tất nhiên sé déu đi tới CNXH nhưng “con đường đi của họ không hoàn toàn giống nhau, mỗi một dân tộc sẽ đóng góp thêm sự muôn vẻ vào hình thức này hay hình thức khác của nền dân chủ, nét đặc trưng này hay nét đặc trưng khác của nên chuyên chính vô sản, tốc độ này hay tốc độ khác trong công cuộc cải tạo XHƠN đối với các mật đời sống xã hội." Sự hình thành hệ thống XHCN thế giới trong một giải đoạn lịch sử hết sức ngắn chứng minh rang su thay thé CNTB bằng CNXH là quy luật khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người. Đây cũng là sự kiện quan trọng bậc nhất sau CTTG-H làm cho so sánh lực lượng trên thế giới thay đổi có lợi cho lực lượng hoà bình. đốc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.