Chương 1 DOI SONG THAM MY NGUYEN THUY 1. Sự xuất hiện đời sống thẳm mỹ thời nguyên thủy Thời nguyên thủy chưa có mỹ học nhưng đã có đời sống thẩm mỹ, điều này đã quá rõ ràng, vì trên các hang động của người xưa, qua các di vật văn hoá ngay từ thời đồ đá cũ đã có nhiều dấu vết thẩm mỹ, thậm chí còn có nhiều tác phẩm nghệ thuật. Ở các hang động đẹp nhất phát hiện ở miền tây nam nước Pháp và miền bắc Tây Ban Nha mà linh mục Brơi, con người khá am hiểu nghệ thuật đã gọi là “Sáu chàng khổng lề”, đó là các hang Antamira, Fôngđògôn, Côngbaren, Látxcô, Truaphơre và Niô, cho ta những bằng chứng đáng tin cậy nhất rằng người tinh khôn đã có một trình độ và một năng lực thẩm mỹ về hình khối, về màu sắc, về cách thức tạo dáng: đã biết tuân thủ theo một số quy tắc nhất định về hình thể sự vật, về con người, về lối bố cục hoặc lối miêu tả tự nhiên, tượng trưng hay ước lệ đề ra theo cách hiểu của họ. Tất cả những cái đó nhằm mục đích thực tiễn nhưng bên cạnh đó họ cũng biêu hiện những quan niệm của họ về cái Đẹp.
Sự phát hiện những “nhà bảo tàng” thẩm mỹ cổ xưa này cho phép chúng ta có thể theo dõi hai thời kỳ phát triển vừa có tính độc lập với nhau lại vừa kế tiếp nhau; thời kỳ thứ nhất gọi là Ôrinhaxiêng và thời kỳ thứ hai bất đầu từ đỉnh điểm của thời Xôluytrêanh, rồi nở rộ vào thời Mắcđalêniêng. Người ta chia lịch sử Trái Đất ra làm sáu nguyên đại địa chất lớn: Tiên thái cổ, Thái cổ, Nguyên sinh, Cổ sinh, Trung sinh và Tân sinh. Tân sinh chỉa ra làm kỷ thứ ba và thứ tư. Vượn biến thành người ở kỷ thứ tư.
Như vậy, tuổi của con người ước khoảng một triệu năm. Sống và trải qua một thời kỳ tiến hoá lâu đài, khoảng 90 vạn năm sau, con người mới bước tiếp vào đời sống thẳm mỹ. Đời sống thẩm mỹ con người rõ nét vào Hau ky dé đá cũ. Do đó, trong lịch sử thẳm mỹ nhân loại, thuật ngữ Ôrinhaxiêng chỉ một trình độ nhất định.
Thực ra, Ôrinhaxiêng chỉ là tên một địa chỉ khảo cổ ở vùng Ôrinhắc nước Pháp. Ở đây, người ta đã tìm thấy các xương người tiền sử và các di vật văn hoá của họ. Søw này từ Ôrinhaxiêng trở thành thuật ngữ khoa học để chỉ giai đoạn tương đối trưởng thành của 5 Đó là các tư liệu khoa học, song vấn đề quan trọng là phải vạch ra đặc điểm của chặng đường đã qua và những nguyên nhân làm thức tỉnh đời sống thẳm mỹ nguyên thủy. Về điểm này, lời dạy sau đây của Ăngghen vẫn rất bố ích đối với chúng ta: “Cho đến nay, khoa học tự nhiên và cả triết học nữa đã hoàn toàn coi nhẹ ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ.
Các khoa học đó chỉ biết tách rời một mặt là giới tự nhiên và mặt kia là tư duy”. Mác lại chỉ ra một cách cụ thể hơn: “Chúng ta có trước mắt mình những lực lượng bản chất đã được đối tượng hoá của con người, lực lượng bản chất ay tồn tại dưới hình thức những đối tượng vật chất xa lạ, hữu ích””. Căn cứ vào những lời chỉ dẫn đó của Mác và Ăngghen, chúng ta đã thấy thành tựu sáng tạo của các công trình văn hoá bao giờ cũng giả định một khuynh hướng nào đó của năng lực con người, trong đó có năng lực thâm mỹ. Nói đến năng lực thẩm mỹ cũng có nghĩa là đề cập đến một loại năng lực tư duy con người, loại tư duy hình tượng, mà tư duy là tiếng nói khát vọng muốn khang định mình trong thế giới khách quan.
Vậy người nguyên thủy đã dựa vào cơ sở nào để cất lên tiếng nói khát vọng đó? Ta thấy sự phát triển của tư duy nguyên thủy bám rất chặt với trình độ trau chuốt công cụ lao động (nghĩa là qua sự tìm tòi để hoàn thiện công cụ lao động). “Có thể hiểu rằng, lao động là một biểu hiện tập trung của hiện thực khách quan, cũng từ đó, nó đẻ ra một loạt các quan hệ phức tạp khác, trong đó bao gồm nhận thức tư tưởng, tình cảm của coni người. Do đó, lúc đầu khi còn là một con vật, giới tự nhiên đã chỉ phối con người. Nhưng công xã nguyên thuỷ.
Con người ở giai đoạn này về mặt cấu tạo đã tiến sát cấu tạo của cơ thể người hiện đại. Con người lúc này đã sáng tạo ra tiếng nói, chế tạo ra những công cụ bằng đá khá tình vi phức tạp, nhưng quan trọng là họ đã có một trình độ thẳm mỹ tương đối khá, nhất là họ đã biết làm nghệ thuật. Còn Xôluytrêanh, Mắcđalêniêng là thời kỳ văn hoá cỗ tiếp sau Ôrinhaxiêng. Các thuật ngữ này là thuật ngữ khảo cổ học và xuất phát của nó là tên địa điểm khảo cỗ tiêu biểu.
Chẳng hạn Mắcđalêniêng là thuật ngữ dựa theo tên của hang Mađơlen (Pháp). Thời Mắcđalêniêng chỉ khoảng thiên niên kỹ thứ XXII trước Công nguyên. °C, Mac va Ph.Angghen, Nhiing tac phẩm đầu tiên,VM, 1956, tr. 6 trong lao động khi sáng tạo ra céng cu lao dong, con người dần trở thành chủ nhân của tự nhiên, có quyền lực một phần đối với tự nhiên.
Xu hướng phát triển của con người là muốn mỗi ngày mình càng có quyền lực đối với tự nhiên. Muốn vậy không có con đường nào khác trau chuốt, hoàn thiện công cụ lao động, là con đường rộng mở đến đời sống thâm mỹ”. Bởi lẽ khi thay đổi cách thức lao động, con người cũng làm biến đôi cả mối quan hệ giữa mình với tự nhiên và còn làm tăng thêm nhiều mối quan hệ vốn từ xưa chưa có đối với cả tự nhiên lẫn bản thân xã hội loài người. Thuở khai sinh, từ sơ kỳ đồ đá cũ, con người mới chỉ biết dùng cảnh cây, sau đó là các mảnh đá thô, những mảnh đá tước tự nhiên làm rìu tay, búa, làm mũi lao.
Sang thời đại đồ đá giữa (trung kỳ), hoạt động kỹ thuật được cải tiến khá nhiều, các công cụ lao động được mài với trình độ chính xác, đáng lưu ý ở đây, luật cân xứng hài hòa đã bắt đầu được phát hiện. Cái rìu đá hình hạnh nhân đã ôn định. Chẳng hạn, giống người Ximantorốp (còn gọi là người cô Trung Quốc được phát hiện ở di chỉ khảo cổ Chu Khẩu Điếm, Bắc Kinh) đã tạo dáng được nhiều công cụ bằng đá và đã biết dùng lửa. Sau này, giống người Nêanđéctan trên lưu vực sông Nêanđéctan (Đức) còn làm ra nhiều vật dụng khá tỉnh xảo thích ứng với nhu cầu.
Thời Trung kỷ đỗ đá cũ đã được đánh dấu bằng các sản phẩm đếo, got, mài nhẫn, làm đẹp các chất liệu như gỗ, đá, ngà voi mamút, sừng hươu, nai và đôi lúc cả hỗ phách, đồng thời hoàn thiện cả vũ khí dùng để săn thú rừng và bắt cá nữa. Đến Hậu kỳ đồ đá mới thì khả năng trau chuốt công cụ lao động đã đạt đến một tài nghệ. Đồng thời với việc phát sinh và phát triển công cụ bằng đá nhỏ và chế tạo các vật dụng bằng đất nung (gốm) thì con người đã thực sự đi vào lĩnh vực sáng tạo. Con đường ấy đã diễn ra theo cách thức sau đây: Trong quá trình kiếm sống, con vật chỉ sử dụng tự nhiên theo bản năng, còn con người lại không làm theo cách đó.
Người nguyên thủy đã biết vận dụng năng lực của mình mà đảo luyện chất liệu nguyên thủy của tự nhiên để biến đổi không ngừng chất liệu đó, bắt nó phục vụ cuộc sống với một hiệu suất ngày càng cao. Như thế, trong lao động, năng lực của con người được phát huy một cách mạnh mẽ, nó dần trở thành năng lực thực sự, làm cho lao động bớt 3 Nhu ta da biết, công cụ lao động nguyên thuỷ, cũng chính là tư liệu lao động quan trọng của tư liệu sản xuất góp phần vào sức lao động để trở thành lực lượng sản xuất. Với ý nghĩa đó, sự tiến bộ công cụ lao động nguyên thủy là cơ sở chủ yếu của văn minh nguyên thủy. cực nhọc mà hiệu quả cao, khi lao động bớt dần cực nhọc và thu nhiều hiệu quả, lao động sẽ tạo thành một hấp dẫn.
Đây là cái mốc cơ bản để đi tới đời sống thâm mỹ. Bởi vì thẩm mỹ đứng ở góc độ nhất định là những hứng thủ tỉnh thần, những cảm khoái thuộc tâm hồn con người, mang tính tâm lý xã hội rất rõ. Con người mà lệ thuộc hoàn toản vào tự nhiên sẽ không bao giờ đẻ ra hứng thú thâm mỹ, chỉ khi con người làm chủ tự nhiên ở một phương diện cơ bản, khi đó con người mới có hứng thú thâm mỹ. Một bước tiến quan trọng nữa của con người là đã biết đi từ cái nhân tạo đẻ ra cái nhân tạo.
Công cụ cỗ xưa nhất là những chiếc rìu tay, những bàn nạo,. Mặc dù còn quá thô sơ, nhưng những công cụ đó là một pho sử sinh động chứng tỏ con người lúc đó đã thoát khỏi tình trạng tác động trực tiếp với vật thể và môi trường xung quanh, chứng tỏ họ đã biết suy nghĩ bằng biểu tượng, rằng họ đã biết đi từ cái tự nhiên đến cái nhân tạo, Tiếp tục quá trình lao động tự nhiên, ngoài lao động chân tay, suy nghĩ đã phát huy thành một dạng thức lao động hữu hiệu: lao động trí óc. Suy nghĩ là quá trình lao động phân tích tông hợp, khái quát. Sự phân tích vật thể bằng tư duy lặp lại sự phân tích trong thực tiễn, đến lượt nó, sự phân tích trong trí não lại trở thành một tiền để tất yếu cho hoạt động thực tiễn, đây là con đường đi từ cái nhân tạo cấp một đến cái nhân tạo cấp hai, tức là cái nhân tạo đẻ ra cái nhân tạo.
Vì thế, có hiện tượng để có rìu đá cải tiến, có hiệu suất cao hơn, con người đã biết vận dụng trí tuệ tìm tòi cơ sở để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Những kết luận rút ra về khả năng tạo lực của chiếc cán rìu và sự kết hợp cái cán với cái lưỡi rìu để nối đôi tay con người cho đài hơn và khỏe hơn đã giúp cho con người nghĩ ra cái khoan đá, đục đá, cưa đá để làm cái vai, cái nắc rìu, làm lỗ tra cán rìu. Từ một số công cụ cơ bản, con người lại tạo ra hàng loạt công cụ khác, đấy chẳng phải là một thứ cổng nghiệp nặng nguyên thủy đó sao. Các công cụ cơ bản được gọi là công cụ của công cụ; từ đó gọi là “công nghiệp nặng”.