CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT Ô TÔ Giới thiệu: Trong chương này sẽ cung cấp những kiến thức về nhiệm vụ, yêu cầu của công việc chẩn đoán kỹ thuật ô tô, cũng như thể hiện khả năng phán đoán, phân tích, kiểm tra và chẩn đoán được các hiện tượng hư hỏng của các bộ phận, các hệ thống trên ô tô. Bên cạnh đó giúp người học sử dụng đúng các trang thiết bị, dụng cụ kiểm tra chẩn đoán đúng qui trình, đúng yêu cầu kỹ thuật, an toàn và đảm bảo chất lượng. Mục tiêu: - Phát biểu đúng các khái niệm chung về chẩn đoán trang thái kỹ thuật ô tô.
- Giải thích và phân tích đúng các thông số kết cấu, thông số chẩn đoán. - Phân biêt các phương pháp chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô. - Chấp hành đúng các qui trình, đảm bảo an toàn trong quá trình sửa chữa ô tô. - Rèn luyên tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mĩ.
Nội dung chính: 1. Khái niệm về chẩn đoán kỹ thuật ô tô Chẩn đoán kỹ thuật là ngành khoa học nghiên cứu các hình thái xuất hiện hư hỏng, các phương pháp và các thiết bị phát hiện ra chúng, dự đoán thời hạn sẽ xuất hiện hư hỏng, mà không phải tháo rời các cụm và các bộ phận ô tô. Ngoài ra chân đoán kỹ thuật còn nghiên cứu các công nghệ và tổ chức công nghệ chẩn đoán. Chẩn đoán là một quá trình logic nhận và phân tích các thông tin truyền đến người tiến hành chẩn đoán từ các thiết bị sử dụng chẩn đoán nhằm xác định trạng thái kỹ thuật của đối tượng ( xe, cụm tổng thành máy, hộp số, gầm…) Trạng thái kỹ thuật của ôtô, của tông thành cũng nhu triệu chứng hư hỏng của chúng khá phức tạp, trong khi đó lượng thông tin lại không đầy đủ lắm.
Vì vậy việc chọn các tham số chẩn đoán (triệu chứng chẩn đoán) đặc trưng cho trạng thái kỹ thuật của đối tượng phải được tiến hành trên cơ sở lượng tin tức nhận được đối với từng triệu chứng cụ thể. Trong chẩn đoán thường sử dụng lý thuyết thông tin để xử lý kết quả. QLĐT-BM13-QT31 11 Trong quá trình sử dụng, trạng thái kỹ thuật của xe ô tô thay đổi dần khó biết trước được. Tiến hành chẩn đoán xác định trạng thái kỹ thuật của ô tô dựa trên cơ sở số liệu thống kê xác suất của các trạng thái kỹ thuật đó.
Ví dụ: Trạng thái kỹ thuật của bóng đèn pha ô tô có thể ở hai trạng thái: Tốt (sáng) không tốt (không sáng). Ta giả thuyết rằng, xác xuất của trạng thái kỹ thuật tốt là rất lớn (0,9), còn xác suất của hư hỏng là (0,1). Mục đích của chẩn đoán kỹ thuật Trong quá trình sử dụng, độ tin cây làm việc của ô tô luôn suy giảm, mức độ suy giảm độ tin cậy chung của ô tô phụ thuộc vào độ tin cậy của các hệ thống và chi tiết, vì vậy để duy trì độ tin cậy chung cần thiết phải tác động kỹ thuật vào đối tượng. Các tác động kỹ thuật vào đối tượng rất đa dạng và được thiết lập trên cơ sở xác định tình trạng kỹ thuật hiện thời ( gọi tắt là trạng thái kỹ thuật), tiếp sau là kỹ thuật bảo dưỡng, kỹ thuật thay thế hay kỹ thuật phục hồi.
Như vậy, tác động kỹ thuật đầu tiên trong quá trình khai thác là xác định trạng thái kỹ thuật ô tô. Ðể xác để định trạng thái kỹ thuật có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau: - Tháo rời, đo kiểm, đo đạc, đánh giá phương thức này đòi hỏi tốn nhiều chi phí như nhân lực tháo rời các hệ thống các chi tiết và nó có thể phá huỷ trạng thái tiếp xúc của các bề mặt lắp ghép. Phương thức này được gọi là xác định trạng thái kỹ thuật trực tiếp. - Không tháo rời, sử dụng các biện pháp thăm dò, dựa trên các biều hiện đặc trưng để xác định tình trạng kỹ thuật của đối tượng.
Phương thức này gọi là chẩn đoán. Giữa hai phương thức trên thì phương thức chẩn đoán có nhiều lợi thế hơn trong khai thác ô tô. Tính tích cực của chẩn đoán kỹ thuật được thể hiện ở chỗ nó dự báo một cách tốt nhất và chính xác những hư hỏng có thể xảy ra mà không cần phải tháo rời ô tô, tổng thành máy. Vì vậy, chẩn đoán kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trên ô tô, nó đã đóng vai trò quan trọng không thể thiếu, đồng thời khoa học chẩn đoán ngày càng tiến bộ vượt bậc, nhất là trên các thiết bị có kết cấu phức tạp và đa dạng.
Ý nghĩa của chẩn đoán kỹ thuật Nâng cao độ tin cậy của xe và an toàn giao thông, nhờ phát hiện kịp thời và dự đoán trước được các hư hòng có thể xảy ra, nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông, đảm bảo năng suất vận chuyển. QLĐT-BM13-QT31 12 Nâng cao độ bền lâu, giảm chi phí về phụ tùng thay thế, giảm được độ hao mòn các chi tiết do không phải tháo rời các tổng thành trên ô tô. Giảm được tiêu hao nhiên liệu, dầu nhờn do phát hiện kịp thời để điều chỉnh các bộ phận đưa về trạng thái làm việc tối ưu. Giảm được giờ công lao động do công tác bảo dưỡng và sửa chữa.
Hiện nay công nghệ tự chẩn đoán đã phát triển đối với các ô tô hiện đại có độ tin cậy cao. Trên các cụm phức tạp của xe đã hình thành hệ thống tự chẩn đoán, kèm theo các thiết bị tự động điều khiển là các hệ thống chẩn đoán điện tử hiện đại tạo khả năng nhanh chóng được phát hiện hỏng hóc, tìm lỗi để hạn chế nguy cơ mất độ tin cậy của một số chi tiết, bộ phận khi ô tô đang hoạt động. Các phương pháp chẩn đoán 1. Các phương pháp chẩn đoán đơn giản Các phương pháp chẩn đoán đơn giản được thực hiện bởi các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm, thông qua các giác quan cảm nhận của con người hay thông qua các dụng cụ đo đơn giản.
Thông qua cảm nhận của các giác quan con người Các thông tin thu được qua cảm nhận của con người thường ở dưới dạng ngôn ngữ (ở dạng mờ): Tốt, xấu, nhiều, ít, vừa, ít có khả năng cho bằng trị số cụ thể. Các kết luận cho ra không cụ thể như: hỏng, không hỏng; được, không được… a. Nghe âm thanh trong vùng con người cảm nhận được Tiến hành nghe âm thanh cần phải đạt được các nội dung sau: - Vị trí nơi phát ra âm thanh. - Cường độ và đặc điểm riêng biệt âm thanh.
- Tần số âm thanh. Để phân biệt các trạng thái kỹ thuật, yêu cầu phải nắm chắc âm thanh chuẩn khi đối tượng chẩn đoán còn ở trạng thái tốt. Các yếu tố về: cường độ, tần số âm thanh được cảm nhận bởi hệ thính giác trực tiếp hay qua ống nghe chuyên dụng. Các sai lệnh so với âm thanh chuẩn thông qua kinh nghiệm chủ quan của chuyên gia là cơ sở đánh giá chất lượng.
Với các bộ phận đơn giản, có hình thù nhỏ gọn của đối tượng chẩn đoán có thể nhanh chóng kết luận: chỗ hư hỏng, mức độ hư hỏng. QLĐT-BM13-QT31 13 Với các cụm phức tạp, hình thù đa dạng (chẳng hạn như cụm động cơ) để có thể chẩn đoán đúng, phải tiến hành nhiều lần ở các vị trí khác nhau. Cảm nhận màu sắc Đối với ô tô có thể dùng cảm nhận màu sắc để chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của động cơ. Thông qua cảm nhận màu sắc khí xả, bugi (động cơ xăng), màu sắc dầu nhờn bôi trơn động cơ.
Cảm nhận mùi Khi ô tô hoạt động các mùi có thể cảm nhận được là: mùi cháy từ sản phẩm dầu nhờn, nhiên liệu, vật liệu ma sát. Các mùi đặc trưng dễ nhận biết là: Mùi khét do dầu nhờn rò rỉ bị cháy xung quanh động cơ, do dầu bôi trơn bị cháy thoát ra theo đường khí xả, các trường hợp này nói lên chất lượng bao kín bị suy giảm, dầu nhờn bị lọt vào buồng cháy. Mùi nhiên liệu cháy không hết thải ra theo đường khí xả hoặc mùi nhiên liệu thoát ra theo các thông áp của buồng trục khuỷu. Mùi của chúng mang theo mùi đặc trưng của nhiên liệu nguyên thủy.
Khi lượng mùi tăng có thể nhận biết rõ ràng thì tình trạng kỹ thuật của động cơ bị xấu nghiêm trọng. Mùi khét đặt trưng từ vật liệu ma sát như tấm ma sát ly hợp, má phanh. Khi xuất hiện mùi khét này chứng tỏ ly hợp đã bị trượt quá mức, má phanh đã bị đốt nóng tới trạng thái nguy hiểm. Mùi khét đặc trưng từ vật liệu cách điện.
Khi xuất hiện mùi khét, tức là có hiện tượng bị đốt cháy quá mức tại các điểm nối của mạch điện, từ các tiếp điểm có vật liệu cách điện như: Tăng điện, các cuộn dây điện trở, các đường dây… Mùi khét đặc trưng từ vật liệu bằng cao su hay nhựa cách điện. Nhờ tính đặc trưng của mùi khét có thể phán đoán tình trạng hư hỏng hiện tại của các bộ phận ô tô. Cảm nhận nhiệt Sự thay đổi nhiệt độ các vùng khác nhau trên động cơ là khác nhau. Khả năng trực tiếp sờ, nắm các vật có nhiệt độ cao là không có thể, hơn nữa sự cảm nhận thay đổi nhiệt độ trong một giới hạn nhỏ cũng không đảm bảo chính xác, do vậy trên ô tô ít sử dụng phương pháp này để chẩn đoán.
Trong một số hạn hữu các trường hợp có thể dùng cảm nhận về nhiệt độ nước làm mát hay dầu bôi trơn động cơ. QLĐT-BM13-QT31 14 Đa số cảm nhận nhiệt thực hiện trên các cụm của hệ thống truyền lực: các hộp số chính, hộp phân phối, cầu xe, cơ cấu lái…Các bộ phận này cho phép làm việc tối đa tới (7500C – 8000C). Nhiệt độ cao hơn giá trị này tạo cảm giác quá nóng là do ma sát bên trong quá lớn (do thiếu dầu hay hư hỏng khác). Kiểm tra bằng cảm giác lực hay mômen Trong phần này chỉ đề cập đến việc xác định trạng thái của đối tượng chẩn đoán thông qua cảm nhận của con người.
Điều này thực hiện bằng việc phân biệt nặng nhẹ của dịch chuyển các cơ cấu điều khiển, các bộ phận chuyển động tự do như: Phát hiện độ rơ dọc của hai bánh xe nằm trên trục của nó, khả năng quay trơn bánh xe trong khoảng độ rơ bánh xe trên hệ thống truyền lực. Khả năng di chuyển tự do trong hành trình tự do của các cơ cấu điều khiển như: bàn đạp phanh, bàn đạp ly hợp, cần số, vành lái. Phát hiện độ rơ theo các phương của bánh xe dẫn hướng khi đã nâng bánh xe lên khỏi mặt đường.