CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VÀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ Mã chương: 3301 Giới thiệu: Chương này cung cấp các khái niệm cơ bản và một số quy luật, công cụ phân tích quan trọng của khoa học hiện đại, nhằm giúp sinh viên có được kiến thức ban đầu về môn học. Mục tiêu: - Nhận biết được các kiến thức cơ bản về kinh tế học nói chung và kinh tế vĩ mô nói riêng. - Mô tả một cách khái quát các hoạt động của các tác nhân trong nền kinh tế. - Thu thập được các kiến thức cơ bản về kinh tế học vĩ mô, cơ chế vận hành của một nền kinh tế.
- Nghiêm túc trung nghiên cứu. Nội dung chính: 1. Khái niệm về kinh tế học và những đặc trưng của kinh tế học 1. Khái niệm kinh tế học Bất cứ chế độ xã hội nào con người cũng phải đối mặt với 2 vấn đề: + Thứ nhất: nhu cầu con người.
Nó chính là mong muốn của con người về việc tiêu dùng các sản phẩm vật chất và phi vật chất (lương thực, thực phẩm, nhà ở, thăm quan du lịch…). Trên thực tế mong muốn này là vô hạn, không bao giờ thoả mãn được. + Thứ hai: Các nguồn lực sản xuất (các nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người, vốn, thời gian…) lại có hạn, khan hiếm và có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Do đó, để tồn tại không còn cách nào khác con người phải tiến hành lựa chọn phương thức phân bổ nguồn lực khan hiếm đó nhằm đáp ứng nhu cầu cần sử dụng cạnh tranh.
Qua phân tích ở trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm về kinh tế học như sau: Theo P.Samuelson: Kinh tế học là một môn khoa học nghiên cứu xem xét xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá 8 cần thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội. Theo David Begg (Giáo sư kinh tế học, trường Đại học tổng hợp London Anh): Kinh tế học nghiên cứu cách thức xã hội giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Theo N. Gregory Man Kiw (Giáo sư kinh tế học, trường Đại học tổng hợp Harvard - Mỹ): Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu phương thức xã hội quản lý nguồn lực khan hiếm của mình. Như vây: Kinh tế học là môn khoa học lựa chọn, nó nghiên cứu cách thức xã hội phân bổ nguồn tài nguyên khan hiếm cho các mục đích sử dụng cạnh tranh để thoả mãn nhu cầu của con người.
Những đặc trưng của kinh tế học - Đặc trưng thứ nhất của kinh tế học: Là nghiên cứu sự lựa chọn trong hoạt động kinh tế, tức là nghiên cứu sự khan hiếm các nguồn lực một cách tương đối so với nhu cầu kinh tế xã hội. - Đặc trưng thứ hai của kinh tế học: Là tính hợp lý. Đặc trương này thể hiện ở chỗ, khi phân tích lý giải một sự kiện kinh tế nào đó phải dựa trên những giả thiết nhất định về diễn biến của những sự kiện này. - Đặc trưng thứ ba của kinh tế học: Là môn khoa học nghiên cứu mặt lượng.
Bởi vì, khi nghiên cứu, phân tích kết quả của hoạt động kinh tế, nếu chỉ nhận định nó tăng lên hay giảm đi thì chưa đủ mà còn phải xác định được sự thay đổi của nó là bao nhiêu? - Đặc trưng thứ tư của kinh tế học: Là tính toán toàn diện và tính tổng hợp, tức là xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế ta phải đặt nó trong mối liên hệ với các hiện tượng và sự kiện kinh tế khác trên phương diện một nước hoặc nền kinh tế thế giới. - Đặc trưng thứ năm của kinh tế học: Các kết quả nghiên cứu kinh tế chỉ được xác định ở mức độ trung bình vì kết quả phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau và không thể xác định được chính xác tất cả các yếu tố này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học 2. Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế học trong quá trình phát triển được chia làm 2 phân ngành là Kinh tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô.
Kinh tế học vi mô là môn khoa học quan tâm nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế trong một nền kinh tế. Như hộ gia đình, doanh nghiệp. Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Có thể hiểu đây là môn khoa học nghiên cứu hoạt động của nền kinh tế với tư cách một tổng thể.
Nói cách khác kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước những vấn đề kinh tế và xã hội cơ bản như: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản, phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. Tùy theo cách thức sử dụng mà kinh tế học được chia làm hai dạng: - Kinh tế học thực chứng: Là một cách tiếp cận của kinh tế học, nó mô tả phân tích các sự kiện, những mối quan hệ trong nền kinh tế một cách khách quan và khoa học, các vấn đề mang tính nhân quả và thường liên quan đến các câu hỏi, đó là cái gì? Là bao nhiêu? Như thế nào? Tại sao lại như vậy? Điều gì xảy ra nếu…? Nó được xem như là bằng chứng thực tế xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người. VD: Khi nhà nước đánh thuế vào xe ô tô nhập khẩu thì giá xe ô tô trong nước xẽ tăng lên, khi đó người tiêu dùng sẽ mua xe ô tô nhập khẩu ít hơn. Năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 9 %.
- Kinh tế học chuẩn tắc: Liên quan đến quan điểm đạo lý, chính trị của một cuốc gia. VD: Giá vé tầu hoả quá cao vì vậy cần phải giảm giá vế cho sinh viên. Người già bệnh tật ốm đau vì vậy nên trợ cấp thuốc men khám chữa bệnh miễn phí. Hay hút thuốc lá có hại cho sưc khoẻ vì vậy không nên hút thuốc lá, Nhà nước nên đánh thuế thật cao vào việc sản xuất và tiêu thụ thuốc lá, hoặc cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức.
Phương pháp nghiên cứu kinh tế học 10 Khác với khoa học tự nhiên, khi nghiên cứu hiện tượng kinh tế người ta thường sử dụng phương pháp quan sát thực tế, xây dựng lý thuyết và tiếp tục quan sát, điều chỉnh lý thuyết. Bởi vì các hiện tượng kinh tế hết sức phức tạp, thường xuyên biến động và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Khi nghiên cứu phải tiến hành thu thập các số liệu. Sau khi đã thu thập được số liệu, cần tiến hành phân tích với các phương pháp phù hợp.
Đời sống kinh tế luôn luôn diễn ra hết sức phức tạp với hàng ngàn loại giá cả, hàng triệu hộ gia đình với vô vàn mối quan hệ chằng chịt và đan xen với nhau. Một phương pháp hết sức quan trọng trong nghiên cứu kinh tế là phương pháp trìu tượng hoá. Ngoài ra, trong nghiên cứu kinh tế, đặc biệt là kinh tế vĩ mô, người ta thường sử dụng hai phương pháp phổ biến là phương pháp đồ thị và phương pháp phân tích cung cầu. Tổ chức kinh tế của một nền kinh tế hỗn hợp 3.
Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế Do các nguồn tài nguyên khan hiếm nhưng nhu cầu của con người, của xã hội nói chung là vô hạn cho nên các nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng phải thực hiện ba chức năng cơ bản đó là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? + Sản xuất cái gì? Tức là sản xuất hàng hoá dịch vụ nào, số lượng là bao nhiêu, bao giờ thì sản xuất? + Sản xuất như thế nào? Tức là sản xuất bằng những đầu vào nào, sản xuất bằng công nghệ nào, giao cho ai sản xuất? + Sản xuất cho ai? Tức là sản phẩm sản xuất ra được phân chia thế nào cho các thành viên trong xã hội tiêu dùng. Ba vấn đề trên là những chức năng cơ bản mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải thực hiện và không phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế. Tổ chức của một nền kinh tế hỗn hợp 11 a. Nền kinh tế tập quán truyền thống: Từ thời công xã nguyên thủy, trong xã hội nà các vấn đề cơ bản của nền kinh tế sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai được quyết định theo tập quán truyền thống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nền kinh tế chỉ huy, mệnh lệnh (hay kế hoạch hoá tập trung) Là nền kinh tế trong đó Chính phủ ra mọi quyết định về sản xuất và phân phối. Ba chức năng của một tổ chức kinh tế đề được thực hiện theo kế hoạch tập trung thống nhất của nhà nước. Nền kinh tế thị trường Là nền kinh tế mà chính phủ không can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế thị trường.
Các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng gì đem lại lợi nhuận cao nhất, bằng những kỹ thuật rẻ nhất và tiêu dùng của các hộ gia đình bằng tiền công có được nhờ lao động. Nền kinh tế hỗn hợp: Là sự kết hợp các nhân tố thị trường, chỉ huy và truyền thống. Các thành phần như: Người tiêu dùng (hộ gia đình); Người sản xuất (các hãng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp); Chính phủ; Người nước ngoài…đều tham gia kiểm soát nền kinh tế, hoạt động thông qua nền kinh tế thị trường và được kiểm soát bằng những mệnh lệnh và những chính sách nhằm kích thích về tài chính và tiền tệ của chính phủ. Một số khái niệm cơ bản 4.
Yếu tố sản xuất - Đất đai và tài nguyên thiên nhiên: Bao gồm toàn bộ đất dùng cho canh tác, xây dựng nhà ở, đường sá… và tài nguyên thiên nhiên như: than đá, dầu lửa, quặng sắt, đồng, bôxít, cây trồng lấy gỗ, làm giấy… - Lao động: Là năng lực của con người được sử dụng theo mức độ nhất định trong quá trình sản xuất - Tư bản (vốn): là những hàng hóa hay máy móc, đường sá, nhà xưởng… 4. Giới hạn khả năng sản xuất Để đơn giản hoá trong nghiên cứu, người ta giả định rằng nền kinh tế sử dụng toàn 12 bộ yếu tố sản xuất chỉ để sản xuất hai loại hàng hoá là lương thực (X) và quần áo (Y).