Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 1. Quan hệ giữa hệ thống kinh tế và môi trường tự nhiên 1. Môi trường và tài nguyên thiên nhiên 1. Méi truong (Environment) Khai niém: Môi trường là một khái niệm rất rộng được định nghĩa theo.nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau Hội nghị Stockhom về môi trường nắm 1972.
Theo Magnard (1980): Môi trường là tổng hợp- ở một thời điểm nhất định- các trạng thái vật lý, hóa học, sinh học và các yếu tô xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật hay đối với các hoạt động của con người. Tuyên ngôn UNESCO (1981): Môi trường được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thông do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người. Như vậy ta thấy khái niệm về môi trường được cụ thẻ hóa trong từng đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau: Nếu chỉ nghiên cứu các yếu tổ vô sinh như đất, nước, không khí, khoáng chit.va quan hệ giữa chúng thì đó là những điều kiện lý, hóa của môi trường hay thường được gọi là môi trường vật lý. Môi trường vật lý vận động chủ yếu theo những quy luật lý hóa và là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học tự nhiên như vật lý học, hóa học, thủy văn học, địa chât học, khí tượng học.
Nếu nghiên cứu tương tác giữa một cơ thể sống hoặc một quan thể với cơ thể sống khác thì đó là nghiên cứu sinh thái, hay đó chính là nghiên cứu môi trường sinh thái. Môi trường sinh thái là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học như sinh thái học, sinh học; ý hoc. ớ Khi xem xét các thành phần tự nhiên bao gồm những yếu tố vô sinh và hữu sinh tồn tại khách quan và tác động qua lại trên phạm vi rộng lớn trong vũ trụ ta có môi trường tự nhiên. Môi trường tự nhiên là đối tượng nghiên cứu của nhiêu ngành như thiên văn học, vật lý vũ trụ, địa lý tự nhiên.
15 Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc - UNEP (1980): Môi trường là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội bao quanh, có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của một cá nhân, một quần thể hoặc những cộng đồng người. Luật Bảo vệ môi trường thông qua ngày 27-02-1993 của Việt Nam: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với Cnhấ, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường trong phạm vi nghiên cứu của kinh tế môi trường là hé ‘thong các hoàn cảnh chứa đựng và thể hiện các quan hệ phức tạp giữa những. thành phân tự nhiên, kinh tẾ và con người, tôn tại trong một không gian và thời gian nhất định: Phân loại môi trường (1) Phân loại môi trường theo chức năng: gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo: Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố của tu nhiémtdn tai khách quan ngoai y muốn của con người như không khí, đất dai, nguồn nước; ánh sáng mặt trời, động thực vật.Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên cho con người.
Môi trường xã hội: là tổng hợp các quan hệ giữa người với người như luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, hương ước.ở:các cấp khác nhau như Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia, quốc gia, tỉnh, huyện, xã, làng, họ tộc, gia đình, tổ nhóm.Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định. Môi trường nhân tạo: bao gồm các nhân tố do'con người tạo nên, làm thành những tiện nghỉ cho cuộc sống của con.người như Hệ thông kết cầu hạ tầng xã hội và kỹ thuật. @) Phân loại môi trường theo quy mô: Phân theo không gian địa lý như môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường địa phương. (3) Phân loại môi trường theo thành phần: Theo thành phần của tự nhiên gồm môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước, môi trường biển; Theo thành phần của dân cư sinh sông gồm môi trường thành thị, môi trường nông thôn.
Bản chất hệ thống của môi trường (1) Tính cấu trúc.Môi trường bao gồm nhiều thành phần (tự nhiên, kinh tế, con người) có chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ tương hỗ với nhau, tạo thành cấu trúc chức năng. Bản chất của chúng chính là những dòng trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin liên kết các thành phần, các bộ phận của môi trường lại với nhau, tạo nên tính thống nhát của hệ môi trường, giúp hệ thống tồn tại và phát triển. Biểu hiện bên ngoài của tỉnh eấu:trúc chính là phản ứng dây chuyền diễn ra trong toàn hệ thống môi trường khi ta tác động đến bất kỳ một thành phần hay một yếu tố nào của chúng. 16 (2) Tính cụ thể: Mỗi môi trường có đặc thù riêng, không hề có môi trường chung chung hay đại diện.
Do vậy cách thức giải quyết các vấn đề môi trường phải xuất phát từ chính đặc điểm của môi trường đó. () Tính mở: Môi trường luôn là một hệ thống mở, nghĩa là luôn trao đổi năng lượng, vật chất với bên ngoài. Do đó các vấn đề môi trường chỉ có thể giải quyết tốt khi có sự hợp tác giữa địa phương, các vùng và các quốc gia trên thế giới. (4) Tính mục tiêu và tự điều chỉnh: Các thành phần và chính bản thân môi trường luôn vận động để đạt đến trạng thái lý tưởng.
Khi có những tác nhân bắt lợi khiến môi trường lệch mục tiêu ban đầu, hệ thống môi trường sẽ xuất hiện cơ chế tự điều chỉnh để đối phó với các tác nhân ấy. Tuy nhiên, khả năng tự điều chỉnh của hệ thống môi trường không phải là vô hạn do sự giới hạn về đòng năng lượng, vật chất và thông tin. Tính chất này mở ra khả năng giải quyết các vấn đề môi trường một cách cơ bẩn và kinh tế hơn, đồng thời cũng quy định mức độ và phạm vi tác động của con người vào môi trường. Tài nguyên thiên nhiên Khái niệm: Tài nguyên (resource) là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sử dung dé tạo ra của cải vật chất hoặc tao ra giá trị sử dụng mới cho con người và các nguồn lực được khai thác từ môi trường thiên nhiên được gọi là tài nguyên thiên nhiên (natural resources).
Phan loai tai nguyén thién nhién: Hiện nay quan điểm của các nhà kinh tế môï'trường đều thống nhất phân loại tài nguyên thiên nhiên (TNTN) theo khả năng tái sinh; trong đó TNTN được chia làm 2 loại: Tài nguyên thiên nhiên —%* + ——. Có khả năng tái sinh Không có khả năng tái sinh wee Tao tién dé cho tai sinh Khéng thé tai sinh s s = a Đ c > < =x se a a ©- Fi TỦ Š 8 E Se OD 5 é 5# z S s8 te SE ie 2 Hinh 1.1, Phan loai tai nguyén thién nhién 17 Tài nguyên có khả năng tái sinh: là những tài nguyên có thể tự duy trì hoặc bổ sung một cách liên tục khi được sử dụng hợp lý (động vật, thực vật, vi sinh vật). Tài nguyên không có khả năng tái sinh: là những tài nguyên có một mức độ giới hạn nhất định trên trái đất và chúng ta chỉ được khai thác chúngở dạng nguyên khai một lần. Loại tài nguyên này được chia làm 3 nhóm: () Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tạo tiền đề cho tái sinh như đất, nước, không khí, năng lượng mặt trời; (1i) Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tái tạo như kim loại, thủy tỉnh, cất dẻo; (ii) Tài nguyên cạn kiệt: than đá, dầu mỏ.Tuy nhiên sự phân loại này cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi vì khả năng tái sinh của động vật, thực vật, vi sinh vật không phải là vô hạn, trong khi than đá và dầu mỏ thực ra có thể được tái hình thành nhưng với thời gian vô cùng dài so với đời sống của con người.
Vai trò của môi trường đối với con người Đối với một cá thể con người cũng như đối với một cộng đồng con người và cả xã hội loài người, môi trường sông có 3 chức năng: (1) Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên: TNTN bao gồm cả tài nguyên có khả năng tái sinh, tài nguyên không có khả năng tai siah và các dạng thông tin mà con người khai thác, sử dụng đều chứa đựng trong môi trường. Hàng năm con người khai thác tài nguyên ngày càng nhiều do nhu cầu vật chất ngày càng tăng,cả về số lượng và chất lượng. (2) Môi trường là nơi chứa chất thải: Mọi hoạt động của con người, từ khai thác tài nguyên cho sản xuất, chế biến tạo ra sản phẩm đến lưu thông và tiêu dùng đều có phế thải và đều được đưa vào môi trường. (3) Môi trường là không gian sống và cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái và cảnh quan: Con người chỉ có thể.tồn tại và phát triển trong không gian môi trường, được hưởng các cảnh đẹp thiên nhiên, thư thái về tỉnh thần và thỏa mãn các nhu cầu tâm lý.
Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường Sản xuất và tiêu đùng tạo ra tất cả các dạng chất thải và chúng có thể xả vào không khí, thải vào nước hoặc trên mặt đất. Danh sách các chất thải này dài đến mức khó tin: sulfur dioxide, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, các dung môi độc, phân động vật, thuốc bảo vệ thực vật, bụi các loại, kim loại nặng.Năng lượng thải cũng là những dạng chất thải quan trọng của quá trình sản xuất được thải ra dưới dạng nhiệt, âm thanh. Ngoài ra cồn có năng lượng phóng xạ, là loại chất thải mang đặc tính của cả vật chất và năng lứợng. Chúng ta hãy xem xét vấn đề chất thải từ sản xuất và tiêu dùng từ quan điểm thuần vật lý bằng việc sử dụng một mô hình đơn giản.2, nguyên vật liệu và năng lượng (M) được lẫy ra từ môi trường tự nhiên và các chất thải từ sản xuất và tiêu dùng (Rpf và Rc®) được thải trở lại vào môi trường.
Theo quy luật nhiệt động học thứ nhất (một quy luật nỗi tiếng về bảo toàn vật chất) thì trong dài hạn hai dòng vật chất này phải bằng nhau: 18 M= Rp! + Rc?