Chuong 6 l BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 6. BAC DIEM CUA BAO HIEM PHI NHAN THO BHTM được chia thành hai nhóm lớn kể từ khi có sự xuất hiện của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vào thế kỷ thứ 17, đó là: bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các loại hình bảo hiểm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm TNDS và bảo hiểm con người phi nhân thọ. Hiện nay có những công ty chuyên kinh doanh về BHNT, hoặc chuyên kinh doanh về BIIPNT, hoặc nếu kinh doanh cả hai thì phải hạch toán riêng biệt.
Nhìn chung, bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc điểm cơ bản sau: : - Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ nhận bảo hiểm cho những rủi ro mang tính chất thiệt hại mà không có tính chất tiết kiệm như trong BHNT. Có nghĩa là trong bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm thì mới được bảo hiểm bồi thường. Khoản phí bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm đã đóng sẽ không được trả lại nếu không có rủi ro xảy ra, và không được coi như một khoản tiền tiết kiệm. - Bảo hiểm phi nhân thọ có thời hạn bảo hiểm thường là ngắn từ 1 năm trở xuống.
Thậm chí có những nghiệp vụ bảo hiểm thời hạn bảo hiểm chỉ trong vòng vài. tháng, vài ngày hay vài giờ như bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm du lịch hay bảo hiểm tai.nạn hành khách. Khác với BHNT thời hạn bảo hiểm có thể là 5 năm, 10 năm hoặc thậm chí là suốt đời. - Bảo hiểm con người phi nhân thọ áp dụng kỹ thuật phân chia trong việc quản lý quỹ tài chính bảo hiểm, khác với BHNT áp dụng kỹ thuật tồn tích.
Điều này xuất phát từ đặc điểm bảo hiểm phi nhân thọ là chỉ bảo 145 hiểm cho rủi ro mang tính chất thiệt hại và thời hạn bảo hiểm ngắn. Sự khác nhau giữa kỹ thuật phẩn chia và kỹ thuật tổn tích được thẻ hiện trong việc lập dự phòng nghiệp vụ của bảo hiểm phi nhân thọ khác với BHNT. Cụ thể trong bảo hiểm phi nhân thọ là lập đự phòng phí và trong BHNT là lập đự phòng toán học. - Theo cach phân loại BHTM theo đối tượng bảo hiểm, BHPNT bao gồm: bảo hiểm tài san, BH trách nhiệm dân sự và BII con người phi nhân thọ.
Hiện nay trên thị trường BHPNT, các sản phẩm BHPNT được triển khai phổ biến bao gồm: bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tiền, bảo hiểm tai nạn cá nhân và chỉ phí ytế, và các sản phẩm bảo hiểm khác. BAO HIEM HANG HAI Bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm được coi là ra đời sớm nhất trong lịch sử của ngành BHTM. Bảo hiểm hàng hải bao gồm 3 nghiệp vụ: ˆ - Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển - Bảo hiểm thân tàu - Bảo hiểm P/I 6. Bão hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 6.
Sự cần thiết phải bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyễn bằng đường biển Hàng hoá xuất nhập khẩu thường có giá trị lớn và được chuyên chở bằng nhiều loại phương tiện: đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không vã container. Có nhiều hình thức vận tải đa phương thức theo mô hình vận tải đường biển - vận tải hàng không; Mô hình vận tải ôtô - vận tải hàng không; Mô hình vận tải đường sắt - vận tải ôtô; Mô hình vận tải đường sắt - đường bộ - vận tải nội thuỷ - vận tải đường biển và mô hình cầu lục địa. Trong đó, cảng biển là một cầu nối giao thông, nơi tập trung, nơi giao lưu của tất cả các phương tiện vận tải: đường sắt,. đường sông, đường bộ, đường biển và cả đường không.
Trong vận tải đa. 146 phương thức, các cảng biển, đặc biệt là các bến container giữ vai trò quan trọng. Từ các bến container, hàng được chuyển từ phương tiện vận tải biển sang các phương tiện khác hoặc lưu lại. Khác với các bến khác, i các bến cảng container, hàng lưu kho lưu bãi tại cảng rất ít mà chủ yếu được chuyển đi khỏi bến rất nhanh chóng, tới những trạm chứa container hoặc tới các cảng nội địa.
Do đó, vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90% tổng khối lượng hàng hoá XNK của thế giới. Nhiều nước ở vị trí không tiếp giáp với biển cũng phải thông qua cảng của nước khác để vận chuyển hàng hoá bằng đường biển như Cộng hoà Séc, Hungari, Lào. Vận chuyển bằng đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác. Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới.
Cho đến nay vận chuyển bằng đường biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế. Bởi vì vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều ưu điểm: - Vận chuyển bằng đường biển có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế với khối lượng lớn, mà các phương tiện vận tải khác như đường bộ; đường sông, đường hàng không. không thé đảm nhận được, ví dụ: các loại hàng hoá siêu trường, siêu trọng.: - Các tuyến vận chuyển bằng đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổ chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều. - Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi dụng điều kiện thiên nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn, nguyên vật liệu, sức lao động.
Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho giá thành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác. Và đây cũng là ưu điểm nỗi bật của vận tải đường biển. ; - Van chuyén bang đường biển phát triển góp phần làm thay đôi cơ cấu hàng hoá và cơ cầu thị trường trong buôn bán quốc tế. - Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ 147 kinh tế với các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước, tác động tới cán cân thanh toán quốc tế, góp phần tăng thu ngoại tệ.
VI vậy, hoạt động vận chuyển bằng đường biển ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, vận chuyển bằng đường biển cũng có một số nhược điểm sau: - Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro. Các rủi ro này có thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hoặc yếu tố xã hội, con người. Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Thời tiết, khí hậu trên biển đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận chuyển bằng đường biển. Những rủi ro do thiên tai bất ngờ như bão, sóng thần, lốc. có thể xảy ra bắt cứ lúc nào. Yếu tố tự nhiên diễn ra không theo một qui luật nhất định nào.
Vi vậy, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có thể dự báo thời tiết, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra. Do yếu tố kỹ thuật: Trong hoạt động của mình, con người ngày càng sử dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại. Nhưng dù máy móc hiện đại chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc về kỹ thuật, đó là trục trặc của chính con tầu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điều khiển từ đắt liền. từ đó gây ra đỗ vỡ, mắt mát hàng hoá trong quá trình XNK.
k Do yếu tố xã hội, con người: Hàng hoá có thể bị mắt trộm, mắt cấp, bị cướp, hoặc bị thiệt hại do chiến tranh. - Tốc độ của tàu biển còn chậm và việc tăng tốc độ khai thác của tàu biển còn bị hạn chế, hành trình trên biển có thời gian dài, trong khi việc ứng cứu rủi ro, tai nạn rất khó khăn. - Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trị rất lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu. Vì vậy, nếu rủi ro xảy ra sẽ gây ton thất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người.
, ~ Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được chủ phương tiện chịu trách nhiệm chính. Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển. 148 Trong thực tiễn, con người đã có những biện pháp khác nhau de chống lại những tác động xấu trên, nhưng bảo hiểm được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để khắc phục những thiệt hại hàng hóa XNK trong quá trình chuyên chở. Mặt khác, trong nền kinh tế mở, ngành bảo hiểm ra đời không những đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho những chủ hàng, mà còn góp phần thúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế thông qua con đường thương mại và có ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề kinh tế - xã hội cho cả hai nước xuất và nhập.
Vì vậy, ngày nay bảo hiểm hàng hóa XNK đã trở thành tập quán thương mại quốc tế. Các điều kiện thương mại quốc tế (NCOTERMS) Trong hoạt động XNK hàng hoá, các bên liên quan trước hết phải kể tới là: người bán (người xuất khẩu), người mua (người nhập khẩu) và người chuyên chở (hãng vận tải). Vì vậy, việc phân định 1 trach nhiém của 3 bên liên quan này là cân thiệt, làm cơ sở để giải quyết các khiếu nại tranh chấp nếu xảy ra. Các điều kiện thương mại quốc tế INCOTERMS (International Commercial Terms- hay còn được gọi là các điều kiện giao hàng) được ra đời, quy định rõ trách nhiệm của các bên có liên quan trong hoạt động XNK hàng hóa.
Theo đó, có 13 loại điều kiện giao hàng, được phân chia thành 4 nhóm E, F, C, D như sau: - Nhóm E: EXW (ex - work) giao hàng tại xưởng của người bán - Nhóm F: Cước vận chuyển chính chưa trả, gồm: +FCA (Free carrier) giao hàng cho người vận tải. + FAS (Free alongside ship) giao hang doc man tau. + FOB (Free on board) Giao hàng lên tàu. : - Nhóm C: Cước vận chuyển chính đã trả, gồm: + CFR (Cost and freight) tiền hàng và cước phí.
+ CIF (Cost insurance freight) tiền hàng, phí bảo hiễm-và cước phí. + CPT (Carriage paid to.) cước trả tới. _+CIP (Carriage and insurance paid to.) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới. 149 - Nhém D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hang tại nước người mua, bao gồm: : + DAF (Delivered at frontier) giao hàng tại biên giới.