mở đầu: TỔNG QUAN VỀ INTERNET Mã bài: MĐ 10 – 01. Giới thiệu: Bài học này cung cấp cho người học biết về lịch sử phát triển của Internet, các thành phần của Internet, giao thức sử dụng trên Internet, địa chỉ IP, và hệ thống tên miền DNS. Mục tiêu: - Trình bày được lịch sử phát triển của Internet. - Trình bày được các thành phần của Internet.
- Hiểu được các giao thức sử dụng trên Internet, địa chỉ IP, và hệ thống tên miền DNS. - Trình bày được các dịch vụ trên Internet. - Hiểu được dịch vụ truyền file (FTP), thư điện tử (Email), Dịch vụ Forum, dịch vụ WWW, ADSL 1. Giới thiệu về Internet 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử của Internet bắt đầu từ trước khi hình thành mạng máy tính vào những nǎm 1960.
Một cơ quan của Bộ Quốc phòng Mỹ, cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển (ARPA) đã đề nghị liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 nǎm 1968. Bốn địa điểm đầu tiên đó là Viện Nghiên cứu Stamford, Trường Đại học tổng hợp California ở Los Angeles, UC - Santa Barbara và trường Đại học tổng hợp Utah. Trong thuật ngữ ngày nay, chúng ta có thể gọi mạng mà người ta đã xây dựng như trên là mạng Liên khu vực (Wide area Network) hay WAN (mặc dù nó nhỏ hơn nhiều). Bốn địa điểm trên được nối thành mạng vào nǎm 1969 đã đánh dấu sự ra đời của Internet ngày nay: Mạng được biết đến dưới cái tên ARPANET đã hình thành.
Giao thức cơ sở cho liên lạc trên Internet là TCP/IP và NCP. Buổi đầu, máy tính và đường liên lạc có khâu xử lý rất chậm, với đường dây dài thì khu chuyển tín hiệu nhanh nhất là 50 kilobits/giây. Số lượng máy tính nối vào mạng rất ít (chỉ 200 máy chủ vào nǎm vào nǎm 1981). Theo thời gian TCP/IP đã trở thành một cách thức thông dụng để trạm làm việc nối đến trạm khác.
Trong thập kỷ 1980, máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi trong các công ty và trường Đại học trên thế giới. Mạng Ethernet kết nối các PC trở thành phổ biến. Các nhà sản xuất phần mềm thương mại cũng đưa ra những chương trình cho phép máy PC và máy UNIX giao tiếp cùng một ngôn ngữ trên mạng. Vào giữa thập kỷ 1980, giao thức TCP/IP được dùng trong một số kết nối khu vực - khu vực (liên khu vực) và cũng được sử dụng cho các mạng cục bộ và mạng liên khu vực (Campus wide).
Giai đoạn này tạo nên một sự bùng nổ phát triển. Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng 1974 trong khi mạng vẫn được gọi là ARPANET cho đến 1980, khi Bộ Quốc phòng Mỹ quyết định tách riêng phần mạng về quân sự thành "MILNET". Cái tên ARPANET vẫn được sử dụng cho phần mạng (phi quân sự) còn lại dành cho các trường đại học và cơ quan nghiên cứu. Vào thời điểm này, ARPANET (hay Internet) còn ở qui mô rất nhỏ.
Mốc lịch sử quan trọng của Internet được chọn vào giữa thập kỷ 1980, khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET và do đó sau gần 20 nǎm hoạt động ARPANET không còn hiệu quả nữa và đã ngừng hoạt động vào khoảng nǎm 1990. 10 Sự hình thành mạng backbone của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới nǎm 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu.
Internet thì vẫn tiếp tục phát triển.2 Các thành phần của Internet (Mạng máy tính, cấu trúc mạng, giao thức kết nối mạng) Internet là mạng máy tính toàn cầu sử dụng giao thức TCP/IP để trao đổi thông tin giữa các máy tính trên mạng. Vì Internet kết nối nhiều máy tính của nhiều quốc gia trên thế giới, cho nên Internet là một liên mạng máy tính, là mạng của các mạng máy tính (network of networks) Các máy tính trên Internet sử dụng cùng một giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol / Internet Protocol: Giao thức truyền dữ liệu / giao thức Internet) để giao tiếp với nhau. Giao thức này cho phép mọi máy tính trên mạng trao đổi dữ liệu với nhau một cách thống nhất, tương tự như một ngôn ngữ quốc tế được mọi người cùng sử dụng để có thể hiểu nhau. Các mạng cấu thành Internet được kết nối với nhau thông qua nhiều hệ thống truyền tin khác nhau 1.3 Các nhà cung cấp dịch vụ ISP, IAP, ISP, ICP, OSP Hình 1: Mô hình internet IAP-Nhà cung cấp truy cập internet: IAP: Internet Access Provider.
IAP là nhà cung cấp dịch vụ đường truyền để kết nối internet, quản lý cấp gateway nối với quốc tế. IAP tại Việt nam: Công ty dịch vụ truyền số liệu VDC thuộc tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). ISP-Nhà cung cấp dịch vụ internet: ISP: Internet Service Provider. ISP là nhà cung cấp dịch vụ internet cho các tổ chức và cá nhân theo hợp đồng, còn được gọi là các ISP thương mại.
ISP phải thuê đường truyền và cổng của một IAP. Hiện tại ở Việt Nam có 16 ISP đăng ký cung cấp dịch vụ, trong đó có các ISP đã chính thức cung cấp dịch vụ là: Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Công ty đầu tư phát triển công nghệ FPT. Công ty Netnam - Viện công nghệ thông tin.
11 Công ty điện tử viễn thông quân đội (Viettel). Công ty cổ phần dịch vụ Internet (OCI). Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT). Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội (HANOITELECOM).
Công ty viễn thông điện lực (ETC). Truyền hình cáp SCJ net. ISP dùng riêng: Không cung cấp dịch vụ internet với mục đích kinh doanh. Đây là loại hình dịch vụ internet của các cơ quan hành chính, các đại học hay viện nghiên cứu.
IAP có thể làm luôn chức năng của một ISP, nhưng ngược lại thì không. Một IAP thường phục vụ cho nhiều ISP. ICP-Nhà cung cấp dịch vụ nội dung thông tin internet: ICP-Internet Content Provider. ICP cung cấp các thông tin về: kinh tế, giáo dục, thể thao, chính trị, quân sự (thường xuyên cập nhật thông tin mới theo định kỳ) đưa lên mạng.
OSP - Nhà cung dịch vụ ứng dụng Internet. OSP: Online Service Provider. OSP cung cấp các dịch vụ trên cơ sở ứng dụng Internet như: mua bán qua mạng, giao dịch ngân hàng, tư vấn, đào tạo,…. Giới thiệu về địa chỉ Internet 2.1 Giao thức Trên Internet hiện nay sử dụng phổ biến các loại giao thức sau: Giao thức PPP (Point to Point Protocol): Là giao thức dùng để nối các máy tính bằng đường điện thoại, các thông tin cụ thể về giao thức ppp sẽ được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP- internet service provider), hoặc người quản trị hệ thống thư điện tử (maile dministration).
Giao thức SMTP (Simple maile transfer protocol): Là giao thức dùng để truyền thông tin dạng thư điện tử trong dịch vụ thư điện tử E-maile trên Internet. Giao thức POP3 (Post office Protocol version 3): Là giao thức dùng để download thư điện tử E-maile SLIP (Serial line internet protocol): Là giao thức dùng để tạo kết nối từ máy của người sử dụng với internet một cách trực tiếp, trong trường hợp này máy của người sử dụng trở thành một nút (node) trên internet. Thông tin về giao thức SLIP được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP- internet service provider), hoặc người quản trị hệ thống maile (maile administration) TCP/IP: Giao thức hoặc chuẩn được dùng phổ biến trên Inernet như là một dịch vụ truyền thông giữa các máy tính Cần lưu ý để nối internet với mạng cục bộ (LAN) cần phải sử dụng giao thức TCP/IP trên các máy tính của mạng, ngoài ra trên máy còn phải có Internet maile,network adapter. Các phần mềm support TCP/IP, SMP, POP3 cần cài trong control panel của server.
Giao thức FTP (File Transfer Protocol): Là giao thức dùng để truyền file, nhờ giao thức này người ta có thể truyền các file, các thư mục (folder) trên Internet. Trong một số trường hợp nhờ giao thức này người ta có thể truy nhập vào các file trên mạng cục bộ nếu được quyền của người quản trị mạng. Trong trường hợp bạn muốn truy cập vào một mạng nào đó nhưng không có account hoặc không biết mật khẩu bạn có thể 12 sử dụng giao thức FTP, FPT Server loại tự do (anonymous) sẽ giúp bạn truy cập một số thông tin cần thiết.2 Địa chỉ IP Địa chỉ IP (Internet Protocol - giao thức Internet) là một địa chỉ đơn nhất mà những thiết bị điện tử hiện nay đang sử dụng để nhận diện và liên lạc với nhau trên mạng máy tính bằng cách sử dụng giao thức Internet. Việc cấp phát địa chỉ IP trên Internet phải được quản lý thống nhất.
Cơ quan quản lý địa chỉ IP là NIC (Nextwork Information Center). Cơ quan đại diện tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là APNIC (Asean – Pacific Nextwork information center). Và tại Việt Nam là công ty VNNIC – thuộc tổng cục bưu chính viễn thông. Địa chỉ IPV4 là một số nhị phân 32 bit và được chia thành 4 phần mỗi phần 8bit và ngăn cách nhau bởi dấu “.
(IPV6 là một số nhị phân 128bit) Có 3 cách biểu diễn một địa chỉ IPv4: Dạng thập phân: 130.56 Dạng nhị phân: 10000010.00111000 Dạng thập lục phân: 82.38 Người dùng thường sử dụng ở dạng số thập phân, nhưng máy tính thì sử dụng địa chỉ ở dạng nhị phân. Một địa chỉ IP bao giờ cũng có 2 phần là địa chỉ mạng (Network address) và địa chỉ máy (Host address) NetID HostID Nextwork Address Host Address NetID: Là một số duy nhất dùng để xác định một mạng. Mỗi máy tính trong một mạng bao giờ cúng cùng một địa chỉ. HostID: Là một số duy nhất được gán cho một máy tính trong một mạng.
Địa chỉ IP được chia làm 5 lớp: A, B, C, D, E. Lớp E đang để dự trữ - chỉ 3 lớp A, B, C là đang được sử dụng. Hình 2 địa chỉ IP Lớp A: Địa chỉ mạng ít và địa chỉ máy chủ trên từng mạng nhiều. + Net ID: 126 mạng.214 máy chủ trên một mạng.
Lớp B: Địa chỉ mạng vừa phải và địa chỉ máy chủ trên từng mạng vừa phải.534 máy chủ trên một mạng. 13 Lớp C: Địa chỉ mạng nhiều, địa chỉ máy chủ trên từng mạng ít. + Host ID:254 máy chủ trên một mạng. Lớp D: Dùng để gởi IP datagram đến nhóm các host trên mạng (Multicast).
Lớp E: Được dự phòng cho tương lai. Bit ĐC Vùng địa chỉ lý thuyết Broadcast Network mask nhận Lớp dạng A Từ 0.