Chương 1 Mạch điện một chiều 1.1 Khái niệm dòng một chiều 1.1 Định nghĩa dòng điện, chiều dòng điện Đặt vật dẫn trong điện trường, các điện tích dương dưới tác dụng của lực điện trường sẽ chuyển động từ nơi có điện thế cao đến nơi có điện thế thấp, các điện tích âm ngược lại sẽ chuyển động từ nơi có điện thế thấp đến nơi có điện thế cao, tạo thành dòng điện. * Định nghĩa: Dòng điện là dòng các điện tích chuyển dời có hướng dưới tác dụng của lực điện trường * Chiều dòng điện: Được quy ước là chiều chuyển dịch của các điện tích dương.2 Bản chất dòng điện trong các môi trường: a. Dòng điện trong kim loại: Ở điều kiện bình thường trong kim loại luôn tồn tại các điện tử tự do, chúng chuyển động hỗn loạn và không tạo ra dòng điện. Khi đặt kim loại trong điện trường, dưới tác dụng của lực điện trường các điện tử tự do chuyển động về hướng cực dương tạo thành dòng điện.
Vậy dòng điện trong kim loại là dòng các điện tử tự do chuyển động ngược chiều với chiều quy ước của dòng điện. Dòng điện trong dung dịch điện ly: Ở điều kiện bình thường trong dung dịch điện ly luôn tồn tại các ion dương và ion âm. Khi đặt dung dịch điện ly trong điện trường, các iôn dương sẽ chuyển động về hướng cực âm cùng chiều với chiều quy ước của dòng điện, ngược lại các iôn âm chuyển động về hướng cực dương ngược chiều với chiều quy ước của dòng điện. Như vậy dòng điện trong dung dịch điện ly là dòng các ion chuyển động có hướng.
Dòng điện trong không khí: Ở điều kiện bình thường không khí là chất cách điện tốt. Nếu vì lý do nào đó trong không khí xuất hiện các điện tử tự do và không khí được đặt trong điện áp đủ lớn để các điện tử tự do có thể bắn phá được các nguyên tử khí, không khí bị ion hoá. Dưới tác dụng của lực điện trường các ion và các điện tử tự do chuyển động có hướng tạo thành dòng điện. 7 Vậy dòng điện trong chất khí là dòng các ion dương chuyển động theo chiều quy ước của dòng điện và dòng các ion âm và các điện tử tự do chuyển động ngược chiều quy ước của dòng điện.3 Cường độ dòng điện: Cường độ dòng điện là lượng điện tích chuyển dịch qua tiết diện thẳng của dây dẫn trong một đơn vị thời gian.
Cường độ dòng điện ký hiệu là I, đặc trưng cho độ lớn của dòng điện, ta có q I t biểu thức: Trong đó: q là lượng điện tích chuyển dịch qua tiết dây dẫn trong thời gian t. Nếu lượng điện tích chuyển dịch qua tiết diện dây dẫn thay đổi theo thời gian ta dq i dt có cường độ dòng điện thay đổi theo thời gian, ký hiệu là i. Khi đó ta có: Trong đó: dq là lượng điện tích qua tiết diện dây dẫn trong thời gian rất nhỏ dt. Đơn vị của điện tích q là Culông (C), của thời gian t là giây (s) thì đơn vị của cường độ dòng điện là Ampe (A).
Bội số của Am pe là: kilô Ampe (kA): 1kA = 103A. Ước số của Ampe là: mili Ampe ( mA ) và micro Ampe ( A ): 1mA = 10- 3 A; 1A = 10-6A. Sự di chuyển của điện tích trong dây dẫn theo một hướng nhất định với tốc độ không đổi tạo thành dòng điện không đổi hay dòng điện một chiều, ta có định nghĩa: Dòng điện một chiều là dòng điện có chiều không đổi theo thời gian. Dòng điện một chiều có cả trị số không đổi theo thời gian gọi là dòng điện không đổi.
Dòng điện có cả chiều hoặc trị số thay đổi theo thời gian gọi là dòng điện biến đổi. Dòng điện biến đổi có thể là dòng điện không chu kỳ hoặc dòng điện có chu kỳ.1a biểu diễn dòng điện không đổi, hình 1.1b là dòng điện biến đổi không chu kỳ kiểu tắt dần, hình 1.1c là dòng điện biến đổi kiểu chu kỳ và hình 1.1d là dòng điện biến đổi hình sin. Các loại đồ thị của dòng điện 1.4 Mật độ dòng điện Cường độ dòng điện qua một đơn vị diện tích tiết diện dây dẫn được gọi là mật độ dòng điện, ký hiệu là (đen ta), ta có: I S Ở đây S là diện tích tiết diện dây dẫn. Đơn vị mật độ dòng điện là A/m2, nhưng do đơn vị này qua nhỏ nên thực tế thường dùng đơn vị A/cm2 hoặc A/mm2.
Trong một đoạn dây dẫn cường độ dòng điện là như nhau tại mọi tiết diện nên ở chỗ nào tiết diện dây dẫn nhỏ mật độ dòng điện sẽ lớn.5 Điện trở vật dẫn Dòng điện là dòng điện tích chuyển động có hướng, vì vậy khi chuyển động trong vật dẫn chúng sẽ bị va chạm vào các nguyên tử, phân tử làm chuyển động của chúng chậm lại. Đó chính là bản chất của điện trở vật dẫn với dòng điện. 9 + Với vật dẫn có tiết diện nhỏ các điện tích trong quá trình dịch chuyển sẽ bị va chạm càng nhiều nên điện trở vật dẫn tỷ lệ nghịch với tiết diện vật dẫn; + Với dây dẫn càng dài sự dịch chuyển của điện tích càng gặp cản trở nên điện trở vật dẫn tỷ lệ với chiều dài dây dẫn; + Với vật dẫn có mật độ điện tử tự do càng lớn thì nó dẫn điện càng tốt vì có càng nhiều điện tích tham gia vào qua trình dịch chuyển tạo nên dòng điện tức là điện trở suất của vật dẫn nhỏ, điện dẫn suất lớn hay điện trở vật dẫn phụ thuộc vào bản chất vật liệu làm nên vật dẫn Tóm lại ta có: Điện trở của một vật dẫn tỷ lệ với chiều dài, tỷ lệ nghịch với tiết diện và phụ thuộc vào vật liệu làm vật dẫn đó. Ta có biểu thức: l R S S R l Trong đó: R = điện trở vật dẫn, đơn vị đo là Ôm ().
l = chiều dài vật dẫn, đơn vị đo là mét (m). S = tiết diện vật dẫn, đơn vị đo là m2. Khi đó đơn vị của điện trở suất là m2 m m Trong thực tế do tiết diện vật dẫn S thường tính theo mm2 nên đơn vị của là mm 2 10 6 m m * Sự phụ thuộc của điện trở vật dẫn vào nhiệt độ: Khi nhiệt độ tăng, các phân tử và nguyên tử tăng cường mức độ chuyển động nhiệt làm cho các điện tích bị va chạm nhiều hơn trong quá trình chuyển động do đó tốc độ của chúng giảm đi hay điện trở của vật dẫn tăng lên theo nhiệt độ. Trong phạm vi từ 0 1000C , đa số các kim loại đều có độ tăng điện trở r tỷ lệ với độ tăng nhiệt độ = - 0.
Gọi r0 và r là điện trở tương ứng với nhiệt độ ban đầu 0 và nhiệt độ đang xét , ta có: r r r0 ( 0 ) r0 r0 r r0 r0 ( 0 ) r0 1 0 10 Từ đó ta có: Hệ số được gọi là hệ số nhiệt điện trở của vật liệu, đo bằng độ tăng tương đối của điện trở khi nhiệt độ biến thiên 10C. Đối với dung dịch điện phân khi nhiệt độ tăng lên làm tăng độ phân ly làm cho mật độ các phần tử mang điện tăng lên, điện trở của chúng vì vậy lại giảm đi.6 Điều kiện duy trì dòng điện lâu dài Muốn các điện tích chuyển động có hướng để tạo thành dòng điện thì ta phải duy trì điện trường trong vật dẫn. Như vậy điều kiện để duy trì dòng điện là phải duy trì hiệu điện thế giữa hai đầu vật dẫn.2 Các phần tử của mạch điện 1.1 Định nghĩa mạch điện Mạch điện là tập hợp tất cả các thiết bị cho dòng điện chạy qua. Các thiết bị lẻ nối với nhau cho dòng điện đi qua gọi là các phần tử của mạch điện.
Một mạch điện gồm các phần tử cơ bản là nguồn điện, vật tiêu thụ điện, vật dẫn điện và các phần tử khác là thiết bị đo lường, đóng cắt, bảo vệ, … 1.2 Các phần tử mạch điện * Nguồn điện: Là thiết bị để biến đổi các dạng năng lượng khác thành năng lượng điện như: - Biến cơ năng thành điện năng ở máy phát điện - Biến nhiệt năng thành điện năng ở nhà máy thuỷ điện - Biến hoá năng thành điện năng ở pin và ắc quy - Biến quang năng thành điện năng như ở pin mặt trời … Trên sơ đồ điện nguồn điện được biểu thị bằng một sức điện động (viết tắt là s.đ) ký hiệu là E, có chiều đi từ cực âm (-) về cực dương (+) nguồn và một điện trở trong của nguồn ký hiệu là r0. * Dây dẫn: Dùng để truyền tải năng lượng điện từ nguồn điện đến nơi tiêu thụ, trên sơ đồ được biểu thị bằng một điện trở dây ký hiệu là rd. * Thiết bị tiêu thụ điện: Là thiết bị để biến năng lượng điện thành năng lượng khác như: - Biến điện năng thành cơ năng như ở động cơ điện; - Biến điện năng thành quang năng như ở bóng đèn; 11 - Biến điện năng thành nhiệt năng như ở các lò điện … Trên sơ đồ chúng được biểu thị băng một điện trở, ký hiệu là R * Các thiết bị khác: Gồm - Thiết bị để đóng cắt như aptômát, cầu dao, máy cắt điện… - Thiết bị để đo lường như Ampemét, Vôn mét, công tơ điện … - Thiết bị để bảo vệ như cầu chì, aptômát, rơle nhiệt… 1.3 Kết cấu của mạch điện Kết cấu của mạch điện gồm có: - Nhánh: là phần đoạn mạch chỉ có một dòng điện duy nhất chạy qua. - Nút: là điểm nối chung của ít nhất ba nhánh trở lên.
- Vòng: tập hợp các nhánh tạo thành vòng kín gọi là vòng. Mạch không phân nhánh Mạch điện không có điểm nút gọi là mạch điện không phân nhánh. Mạch không phân nhánh cường độ dòng điện như nhau tại mọi phần tử của mạch điện (hình 1. Mạch điện có điểm nút gọi là mạch điện phân nhánh (hình 1.
Mạch phân nhánh 12 1.3 Cách ghép nguồn một chiều Các nguồn điện hoá học như pin hay ắc quy thường có điện áp thấp và khả năng cung cấp dòng điện cũng nhỏ, một phần tử nguồn không đủ thoả mãn yêu cầu của phụ tải, vì vậy ta thường phải ghép nhiều phần tử nguồn thành bộ nguồn. Ở đây ta chỉ xét việc đấu các phần tử nguồn giống nhau (có cùng s.đ và điện trở trong) thành bộ.