MỞ ĐẦU: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG CUNG CẤP ĐIỆN Giới thiệu: Trong những năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân cũng được nâng cao kéo theo nhu cầu sử dụng điện năng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, sinh hoạt. phát triển không ngừng. Đối với những người công tác trong ngành điện cần phải có sự hiểu biết nhất định về xã hội, môi trường, các đối tượng cấp điện để có thể tham gia tốt vận hành, thiết kế, lắp đặt các công trình điện. Mục tiêu: - Phân tích được đặc điểm, các yêu cầu đối với nguồn năng lượng, nhà máy điện, mạng lưới điện, hộ tiêu thụ, hệ thống bảo vệ và trung tâm điều độ.
- Vận dụng đúng các yêu cầu và nội dung chủ yếu khi thiết kế hệ thống cung cấp điện. - Rèn luyện tính cẩn thận, chính xác và nghiêm túc trong học tập và trong thực hiện công việc.Nội dung bài: 2. Nguồn năng lượng tự nhiên và đặc điểm của năng lượng điện Mục tiêu - Trình bày được đặc điểm của các nguồn năng lượng tự nhiên, đặc điểm của năng lượng điện. Ngày nay, người ta đã tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội.
Trong số của cải vật chất ấy có nhiều dạng năng lượng được tạo ra. Năng lượng cơ bắp của người và vật cũng là một nguồn nặng lượng đã có từ xa xưa của xã hội loài người. Sự phát triển mạnh mẽ và liên tục những hoạt động của con người trên quả đất đòi hỏi ngày càng nhiều năng lượng lấy từ các nguồn trong thiên nhiên. Thiên nhiên xung quanh ta rất giàu, nguồn năng lượng điện cũng rất dồi dào.
Than đá, dầu khí, nguồn nước của các dòng sông và biển cả, nguồn phát nhiệt lượng vô cùng phong phú của mặt trời và ở trong lòng đất, các luồng khí chuyển động, gió v. đã là những nguồn năng lượng rất tốt và quí giá đối với con người. Năng lượng điện (điện năng) hiện nay đã là một dạng năng lượng rất phổ biến, sản lượng hằng năm trên thế giới ngày càng tăng và chiếm hằng nghìn tỷ kWh. Sở dĩ điện năng được thông dụng như vậy vì nó có nhiều ưu điểm như: dễ dàng chuyển thành các năng lượng khác (cơ, hoá, nhiệt v.), dễ chuyển tải đi xa, hiệu suất lại cao.
Trong quá trình sản xuất và phân phối, điện năng có một số đặc điểm chính như sau: a. Khác với hầu hết các loại sản phẩm, điện năng sản xuất ra nói chung 2 không tích trữ được (trừ một vài trường hợp cá biệt với công suất rất nhỏ người ta dùng pin và ắc quy làm bộ phận tích trữ). Tại mọi thời điểm, ta phải đảm bảo cân bằng giữa điện năng được sản xuất ra với điện năng tiêu thụ kể cả những tổn thất do truyền tải. Đặc điểm này cần quán triệt không những trong nhiệm vụ quy hoạch, thiết kế hệ thống cung cấp điện, nhằm giữ vững chất lượng điện năng thể hiện ở giá trị điện áp và tần số.
Các quá trình về điện xảy ra rất nhanh, ví dụ sóng điện từ lan truyền trong dây dẫn với tốc độ rất lớn xấp xỉ tốc độ ánh sáng 300.000 km/sec, quá trình sóng sét lan truyền, quá trình quá độ, ngắn mạch xảy ra rất nhanh (trong vòng nhỏ hơn 1/10 giây). Đặc điểm này đòi hỏi phải sử dụng thiết bị tự động trong vận hành, trong điều độ hệ thống cung cấp điện. Bao gồm các khâu bảo vệ, điều chỉnh và điều khiển, tác động trong trạng thái bình thường và sự cố, nhằm đảm bảo hệ thống cung cấp điện làm việc tin cậy và kinh tế. Đặc điểm thứ ba là: công nghiệp điện lực có liên quan chặt chẽ đến hầu hết các ngành kinh tế quốc dân (khai thác mỏ, cơ khí, dân dụng, công nghiệp nhẹ.
Đó là một trong những động lực tăng năng suất lao động, tạo nên sự phát triển nhịp nhàng trong cấu trúc kinh tế. Quán triệt đặc điểm này sẽ xây dựng được những quyết định hợp lý trong mức độ điện khí hóa đối với các ngành kinh tế các vùng lãnh thổ khác nhau; mức độ xây dựng nguồn điện, mạng lưới truyền tải phân phối, nhằm đáp ứng sự phát triển cân đối, tránh được những thiệt hại kinh tế quốc dân do phải hạn chế nhu cầu của hộ dùng điện. Mục tiêu - Trình bày được nguyên tắc làm việc và đặc điểm của các nhà máy điện.Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) 3 Bao gồm: - Nhà máy nhiệt điện ngưng hơi: Là nhà máy nhiệt điện mà việc thải nhiệt của môi chất làm việc (hơi nước) được thực hiện qua bình ngưng. - Nhà máy nhiệt điện rút hơi: đồng thời sản xuất điện năng và nhiệt điện.
Về nguyên lý hoạt động giống như nhà máy nhiệt điện ngưng hơi, song ở đây lượng hơi rút ra đáng kể từ một số tầng của tuốc bin để cấp cho các phụ tải nhiệt công nghiệp và sinh hoạt. Do đó hiệu suất chung của nhà máy tăng lên. Ở nhà máy nhiệt điện sự biến đổi năng lượng được thực hiện theo nguyên lý: Nhiệt năng Cơ năng Điện năng. Nhà máy nhiệt điện có những đặc điểm sau: - Thường được xây dựng gần nguồn nhiên liệu và nguồn nước.
- Tính linh hoạt trong vận hành kém, khởi động và tăng phụ tải chậm. - Hiệu suất thấp ( = 30 40%) - Khối lượng nhiên liệu sử dụng lớn, khói thải và ô nhiễm môi trường.Nhà máy thủy điện (NMTĐ): Nguyên lý của nhà máy thủy điện là sử dụng năng lượng dòng nước để làm quay trục tuốc bin thủy lực để chạy máy phát điện. Ở đây, quá trình biến đổi năng lượng là: Thủy năng Cơ năng Điện năng. 4 Công suất của nhà máy thủy điện phụ thuộc vào hai yếu tố chính là lưu lượng dòng nước Q qua các tuốc bin và chiều cao cột nước H, đó là: P = 9,81QH MW hay chính xác hơn: P = 9,81 QH.
Trong đó: Q: lưu lượng nước (m3 /sec) H: chiều cao cột nước (m) : hiệu suất tuốc bin Nhà máy thủy điện có những đặc điểm sau: - Xây dựng gần nguồn nước nên thường xa phụ tải. - Vốn đầu tư xây lắp ban đầu lớn, chủ yếu thuộc về các công trình như đập chắn, hồ chứa. - Thời gian xây dựng kéo dài. - Chi phí sản xuất điện năng thấp - Thời gian khởi động máy ngắn.
- Hiệu suất cao ( = 80 90%). - Tuổi thọ cao.Nhà máy điện nguyên tử (NMĐNT) Nhà máy điện nguyên tử cũng tương tự như nhà máy nhiệt điện về phương diện biến đổi năng lượng: Tức là nhiệt năng do phân hủy hạt nhân sẽ biến thành cơ năng và từ cơ năng sẽ biến thành điện năng. 5 Ở nhà máy điện nguyên tử, nhiệt năng thu được không phải bằng cách đốt cháy các nhiên liệu hữu cơ mà thu được trong quá trình phá vỡ liên kết hạt nhân nguyên tử của các chất Urani-235 hay Plutoni-239. trong lò phản ứng.
Do đó nếu như NMNĐ dùng lò hơi thì NMĐNT dùng lò phản ứng và những máy sinh hơi đặc biệt. Ưu điểm của NMĐNT: + Chỉ cần một lượng khá bé vật chất phóng xạ đã có thể đáp ứng được yêu cầu của nhà máy. + Một nhà máy có công suất 100MW, một ngày thường tiêu thụ không nhiều hơn 1kg chất phóng xạ. + Công suất một tổ máy phát điện - tuốc bin của nhà máy điện nguyên tử sẽ đạt đến 500, 800, 1200 và thậm chí đến 1500MW.
Nhà máy điện nguyên tử có những đặc điểm sau - Có thể xây dựng trung tâm phụ t - Vốn đầu tư xây lắp ban đầu lớn và thời gian xây dựng kéo dài. - Chi phí sản xuất điện năng thấp nên thường làm việc ở đáy đồ thị phụ tải. - Thời gian sử dụng công suất cực đại lớn khoảng 7000giờ/năm hay cao hơn. Các loại nhà máy điện khác + Nhà máy điện dùng sức gió (động cơ gió phát điện) Người ta lợi dụng sức gió để quay hệ thống cánh quạt đặt đối diện với chiều gió.
Hệ thống cánh quạt được truyền qua bộ biến đổi tốc độ để làm quay máy phát điện, sản xuất ra điện năng. Điện năng sản xuất ra được tích trữ nhờ các bình ắc quy. Động cơ gió phát điện có khó khăn trong điều chỉnh tần số do vận tốc gió 6 luôn luôn thay đổi. Động cơ gió phát điện thường có hiệu suất thấp, công suất đạt nhỏ do đó chỉ dùng ở những vùng hải đảo, những nơi xa xôi không có lưới điện đưa đến hoặc ở những nơi thật cần thiết như ở các đèn hải đăng.
+ Nhà máy điện dùng năng lượng bức xạ mặt trời Thường có dạng như nhà máy nhiệt điện, ở đây lò hơi được thay bằng hệ thống kính hội tụ để thu nhận nhiệt lượng bức xạ mặt trời để tạo hơi nước quay tuốc bin. Nhà máy điện dùng năng lượng bức xạ mặt trời có những đặc điểm sau: - Sử dụng nguồn năng lượng không cạn kiệt - Chi phí phát điện thấp và đặc biệt hiệu quả ở các vùng mà việc kéo các lưới điện quốc gia quá đắt. - Độ tin cậy vận hành cao. - Chi phí bảo trì ít.
- Không gây ô nhiễm môi trường. + Nhà máy năng lượng địa nhiệt: Nhà máy năng lượng địa nhiệt sử dụng sức nóng của lòng đất để gia nhiệt làm nước bốc hơi. Hơi nước với áp suất cao làm quay tuốc bin hơi nước. Tuốc bin này kéo một máy phát điện, từ đó năng lượng địa nhiệt biến thành năng lượng điện.
Có hai loại nhà máy năng lượng địa nhiệt: loại chu kỳ kép (hình1.4) và loại phun hơi (hình1. Nước nóng địa nhiệt có nhiệt độ vào khoảng 3500 F và áp suất khoảng 16. Mạng lưới điện. Mục tiêu: - Phân loại được mạng lưới điện.Mạng truyền tải Mục đích của mạng truyền tải trên không là truyền tải năng lượng từ các nhà máy phát ở các nơi khác nhau đến mạng phân phối.
Mạng phân phối là nơi cuối cùng cung cấp điện năng cho các hộ tiêu thụ. Các đường dây truyền tải cũng nối kết các hệ thống điện lân cận. Điều này không những cho phép điều phối kinh tế năng lượng giữa các vùng trong quá trình vận hành bình thường mà còn cho phép chuyển tải năng lượng giữa các vùng trong điều kiện sự cố. Mạng truyền tải có điện áp dây trên 60kV và được tiêu chuẩn hóa là 69kV, 115kV, 138kV, 161kV, 230kV, 345kV, 500kV và 765kV (tiêu chuẩn ASNI).
Điện áp truyền tải trên 230 kV thường được coi là siêu cao áp.Mạng phân phối Mạng phân phối là phần kết nối các trạm phân phối với các hộ tiêu thụ.