Cách xác định nội lực trong hệ phăng tính định - chịu tải trọng di động: 3. Phương pháp nghiên cứu hệ chịu tải trọng di động Tai trong di dong là tải trọng có vị trí thay đổi trên công trình, ví dụ như đơàn xe lửa, đoàn xe ôtô, đoàn người đi trên cầu. Khác với trường hợp hệ chịu tải trọng bất động, nội lực trong hệ chịu tải trong di động thay đổi theo vị trí của tải trọng. Do đó khi nghiên cứu cách tính công trình chịu tải trọng di động ta phải giải quyết hai nhiệm vụ sau: ‡+ Xác định vị trí đễ tính của tải trọng di động trên công trình, nghĩa là tìm vị trí của tải trọng để sao cho tương ứng với vị trí đó thì đại lượng nghiên cứu (chẳng hạn như mômen uốn, lực cắt, phản lực, chuyển vị.) sẽ có giá trị lớn nhất.
Vị trí để tính còn gọi là vị trí bắt lợi nhất. Xác định trị số để tính của đại lượng nghiên cứu tương ứng với vị trí để tính của tải trọng. Trị số để tính cửa đại lượng nghiên cứu là trị số lớn nhất vẻ giá trị tuyệt đối khi tải trọng di động trên công trình. uo Nói chung, về nguyên tắc, muốn tìm vị trí bất lợi nhất và giá trị để tính ta có thể tiến hành theo các bước sau: $ Giả thiết coi khoảng cách giữa các tải trọng di động trên công trình là không đổi (điều này phù hợp với các quy: định trong quy trình thiết kế) và xác định vị trí của chúng theo một tọa độ chạy z.
$ Thiết lập biểu thức của đại lượng nghiên cứu S (nội lực, phản lực hoặc chuyển vị) theo tọa độ chạy z. $ Tìm các cục trị của hầm S(z). Gia trị cực trị lớn nhất là giá trị để tính còn vị trí tương ứng của đoàn tải trọng là vị trí bất lợi nhất. Và nguyên tắc, cách giải bài toán cũng tương đối đơn giản nhưng trên thực tế khi vận dụng ta thường gặp nhiều khó khăn vì các hàm S(z) thudng không phải là hàm liên tục về giá trị cũng như về đạo hàm của chúng.
Vì vậy, cách giải quyết này thường không được áp dụng. Đối với những hệ thanh được phép áp dụng nguyên lý cộng tác dụng ta có thể giải quyết vấn để một cách đơn giản bằng phương pháp đường ảnh hưởng (nếu hệ thanh là hệ phẳng) hoặc mặt án# hướng (nếu hệ thanh là hệ không gian). Dưới đây ta sẽ nghiên cứu tỷ mỷ nội dung phương pháp đường ảnh hưởng. Định nghĩa đường ảnh hưởng Đường ảnh hưởng S là đồ thị biểu diễn luật biến thiên của đại lượng nghiên cứu S xuất hiện tại một vị trí xác định trên công trình (chẳng hạn phản lực tại liên kết, mômen uốn, lực dọc, chuyển vị tại một tiết diện trên công trinh) theo vị trí của một.
tải trọng tập trung bằng đơn vị lực không thứ nguyên có phương và chiêu ' không đổi đôi - đi động trên công trình. Để cho gọn, ta sẽ ký hiệu đường ảnh hưởng S là đ. Ngoài định nghĩa trên, trong thực tế còn tôn tại các định nghĩa về đường ảnh hưởng của đại lượng Š khi tải trọng là mômen tập trung di động, khi tải trọng là lực tập trung quay xung quanh một điểm (để tính cần trục) v. Trong giáo trình này chỉ đẻ cập đến các nội dung về đường ảnh hướng tương ứng với định nghĩa đã nêu ở trên.
Trên cơ sở đó, người đọc dễ dàng suy luận cho các trường hợp khác. Nguyên tắc vẽ đường ảnh hướng. Theo định nghĩa trên, khi vẽ đường ảnh hưởng của đại lượng Š ta thực hiện theo thứ tự như sau: 1) Giả thiết trên công trình chỉ có một lực tập trung P bằng đơn vị đặt cách gốc tọa độ chọn tùy ý một khoảng là z. 2) Xác định đại lượng nghiên cứu Š tương ứng với vị trí của lực P có tọa độ z theo các phương pháp tính với tải trọng bất động đã quen biết.
Như vậy ta sẽ được biểu thức giải tích Š(z) của đại lượng nghiên cứu. Biểu thức này là phương trình đường ảnh hưởng 5S. 3) Cho tọa độ z biến thiên, tức là tải trọng P di động trên công trình, căn cứ vào phương trình vừa tìm được, vẽ đề thị của hàm $(z), tức là vẽ được đường ảnh hưởng $. Khi vẽ đường ảnh hưởng cân thống nhất quy ước: ** Chọn đường chuẩn vuông góc với phương của lực di động (hoặc chọn song song với trục của các thanh).
** Các tung độ dựng vuông góc với đường chuẩn. % Các tung độ dương dựng theo chiều của lực di động. 86 Chú ý: Nếu đại lượng nghiên cứu S không phải là một hàm duy nhất liên tục theo tọá độ z trên toàn bộ công trình thì đường ảnh hưởng 8 bao gồm nhiều đoạn với các quy luật biến thiên khác nhau. Trong trường hợp này †a cần lần lượt đặt tải trọng P trên từng đoạn một để xác định hàm S(z) tương ứng.
Vẽ các đường ảnh hưởng phản lực A, phản lực B, momen uốn và lực cắt tại tiết điện & cho dâm trên hình 3.1a khi lực P hướng từ trên xuống dưới di động vuông góc với trục dẫm. a) Duong ảnh hướng phán lực A và phán lực B Chọn gốc tọa độ tại gối tựa A và đặt lực P cách gốc một khoảng z. Xác định các phản lực từ các điều kiện cân bằng SMp = Al - P(l-z) = 0; 3) 2M = BL— P:=0. l—E ; B=P>,“ Suyra A=P Ị ! Nếu cho P = ƒ ta có: dah, A= ims > dak.
Bae Cho z biến thiên ta sẽ vẽ được đường ảnh hưởng. có dạng đường thẳng. Bonu tren hinh 3.1 b) Đường ánh hướng của mômen uốn và lực cất tại tiết điện k Trong trường hợp này ta phải lần lượt đặt tải trọng trong từng đoạn: đoạn bên trái tiết diện & (từ gối A đến tiết diện £) và đoạn bên phải tiết diện & (từ tiết điện & đến gối Ö) vì ứng với mỗi đoạn đó ta sẽ tìm được những biểu thức khác nhau của d. Mg va dah.
we ® Khi tải trong P dat ở bên trái tiết diện & (0 <z Xz): thực hiện mặt-cắt'qửa: tiết diện & và khảo sát cân bằng phần bên phải, ta có: My = Bl-a); Ox = -B. 87 Thay Ø bằng hàm ảnh hưởng tìm được ở trên, ta có dah. Các phương trình chỉ thích hợp khi lực P di động ở bên trái tiết diện & tức là khi Ø <s <z nên gọi là phương trình đường trái. Ta vẽ các đường trái theo hai tung độ: ‘ ni -khiz=Ø_ tacó Mụỹ = 0; QO; = 0; -khic=/ tacó Mụ = l¬a; Ox = —I.
Các đường trái của đ.h, Ớy vẽ trên hình 3.1d và e, Phân thích dụng của các đường này là các đoạn thẳng liên nét trên hình vẽ. ® Khi tải trọng P đặt ở bên phải tiết điện &, khảo sát cân bằng của phần bên trái tiết điện &, ta có Mp=A. Thay A bằng hàm ảnh hưởng tìm được ở trên, ta có đa. Mi = TS, dah, 0=.
Các phương trình này chỉ thích hợp khi P di động ở bên phải tiết diện & (a Sx S/1) nên gọi là phương trình đường phái. Ta vẽ đường phải theo hai tung độ: -khiz = (acd Mỹ = +d @ =1; - khi z = ta có Mụ =0; Of = 0.Id và e, phần thích dụng của đường phải được vẽ liên nét. Ta có thể dễ dàng kiểm nghiệm những đặc điểm sau: 1. Đường trái và đường phải của đ.
Mụ cắt nhau tại điểm ứng dưới tiết diện k. Thật vậy, nấu cho z= a trong các phương trình đường trải và đường phải của đ. Mụ ta sẽ tim được hai tung độ có giá trị bằng nhau và bằng a(l-aJ. Đường trái và đường phải của đ.Q, song song với nhau.
Thật vậy, so sảnh hai hệ số góc ta thấy chúng bằng nhau và bằng -1⁄. Ý nghĩa và thứ nguyên của tung độ đường ảnh hướng 1.nghĩa của tung độ đ. S Theo định nghĩa và cách vẽ đường ảnh hưởng nêu ở trên, ta suy ra ý nghĩa của một tung độ đường ảnh hưởng. 88 Tung độ của đường ảnh hưởng S tại một tiết diện nào đó biểu thị đại lượng S do - lực tập trung P bằng đơn vị đặt ngay tại tiết diện đó gây ra.
Để phân biệt rõ khái niệm về đường ảnh hưởng với khái niệm biểu đồ, ta nhớ dại ý nghĩa của một tung độ biểu đô. Tung độ biều đỗ S tại một tiết diện nào đó biểu thị giá trị của đại lượng S tại tiết diện đó do các tải trọng bất động đã biết có vị trí không đổi gây ra. Như vậy, biểu đồ cho ta thấy được sự phân bố của đại lượng nghiên cứu trên tất cả các tiết điện của công trình trong điêu kiện tải trọng bất động. Nếu thay đổi vị trí của tải trọng thì biểu đồ cũng thay đổi theo, lúc đó ta phải vẽ lại biểu đô khác.
Đường ảnh hưởng cho ta thấy sự biến thiên của đại lượng cần nghiên cứu tại một vị trí xác định nào- đó trên công trình tương ứng với tất cả các vị trí của một tải trọng tập trung P bằng đơn vị. Đường ảnh hưởng không nói lên được sự biến thiên của đại lượng nghiên cứu từ tiết diện này qua tiết diện khác, khi thay đổi vị trí của tiết diện thì cần phải vẽ đường ảnh hưởng khác. Thứ nguyên của tung độ đ. S Qua ví dụ trên khi vẽ đ.
Š ta đã thiết lập phương trình đ. S theo tải trọng tập trung Ð = 7 là một lực không thứ nguyên. Trong thực tế, tái trọng là đại lượng có thứ nguyên (TN), do đó ta có TN của đại lượngS TN của tung độ dah. S= TN của hc P , Từ đó ta có thể đễ dàng suy ra đơn vị đo của tung độ đa.
Chẳng hạn, nếu lực được đo bằng kÑ, chiều dài được đo bằng m thì đơn vị của tung độ đ. phản lực sẽ là kN/kN tức là hư số còn tung độ đ. mômen trốn là kNm/kN = m v. Dạng của đường ảnh hưởng Nói chung, đ.
Š có thể là đường thẳng hoặc cong. Ñiêng rong trường hợp đại lượng S là phản lực hoặc nội lục trong hệ tĩnh định, đ. S bao gầm những đoạn thẳng, mỗi đoạn thẳng tương ứng với một phần xác định của hệ. Các phần xác định này được giới hạn trong phạm vi mỗi miếng cứng thành phần của hệ nếu miếng cứng đó không chứa đại lượng $.
Trong trường hợp miếng cứng thành phần của hệ có chứa đại lượng SŠ thì phạm vi miếng cứng này sẽ được chia thành hai phần xác định bởi mặt cắt qua tiết diện hoặc qua liên kết có chứa đại lượng S.