mở đầu Để xây dựng quy tắc cấu tạo hình học của hệ thanh phẳng ta cân tìm hiểu các khái niệm sau: A. Hệ bất biến hình Hệ bắt biến hình (BBH) là hệ khi chịu tải trọng vẫn giữ nguyên được hình dạng hình học ban đâu của nó nêu ta xem biến dạng dàn hồi của các vật thể là không đắng kể, hoặc xem các cầu kiện của hệ là tuyệt đôi cứng. : Hệ trên hình I.I là BBH vì dưới tác dụng của tải trọng, nếu xem các cấu kiện là tuyệt đối cứng thì hệ vẫn giữ nguyên dạng hình học ban đầu của nó. Thực vậy, khi xem các cấu kiện AB, 8C, AC là tuyệt đối cứng tức là chiều đài của chúng không đổi thì như ta đã biết, với ba cạnh xác định ta chỉ có thể dựng được một tam giác duy nhất A8C mà thôi.1 Trừ một vài trường hợp đặc biệt còn nói chung các kết cấu trong xây dung phải là hệ BBH.
Hệ BBH có khả năng chịu tải trọng; nội lực phát sinh trong hệ cân bằng với ngoại lực. Hệ biến hình Hệ biến hình (BH) là hệ khi chịu tải trọng sẽ thay đổi hình dạng hình học một cách hữu hạn mặc dù ta xem các cầu kiện của hệ là tuyệt đối cứng. Kết cấu trên hình 1.2 là hệ BH. Dưới tác dụng của tải trọng, hệ ABCD có thể thay đổi dạng hình học hữu hạn và cớ thể sụp đổ theo đường đứt nét AB'CD như trên hình 1.2 mặc dù ta xem các thanh A48, 8Œ, CD là tuyệt đối cứng.2 Nói chung kết cấu biến hình không có khả năng chịu tải trọng, do đó trong các công trình xây dựng người ta không dùng hệ BH.
Đôi khi trong thực tế người ta cũng dùng hệ BH để chịu lực nếu tải trọng tác dụng có thể làm cho hệ nằm trong trạng thái cân bằng. Ví dụ, hệ dây xích trên hình 1.3 là hệ BH (khi tải trọng tác dụng theo phương ngang, hệ thay đổi dạng hình học ban p đâu) nhưng vẫn có khả năng chịu lực theo phương dọc theo. Hệ biến hình tức thời Hệ biến hình tức thời (BHTT) là hệ khi chịu tải trọng sẽ thay déi dạng hình học vô cùng bé (nếu bỏ qua các lượng vô cùng bé bậc cao vê sự thay đổi kích thước hình học) mặc dù ta xem các cầu kiện của hệ là tuyệt đối cứng. Sau khi thay đổi dạng hình học vô cùng \ |?⁄ bé, hệ lại trở nên bất biến hình.
A W a vi Trên hình 1.4 là một ví dụ đơn giản về j cm ok e Ị hệ BHTT. Để xác nhận điêu đó ta cần La BN chứng minh điểm B chỉ có khả năng chuyển đời một đoạn 8ð” vô cùng bé.4 That vậy, dưới tác dụng của tải trọng, điểm Ö thuộc thanh A8 có khuynh hướng chuyển động theo đường tron tam A ban kính A8. Tương tự, điểm Ö thuộc thanh BC có khuynh hướng chuyển động theo đường tròn tam C ban kính CB. Vì ABC thẳng hàng nên hai đường tròn đó tiếp xúc tại 8.
Do đó điểm # có khả năng 20 chuyển dời vô cùng bé theo phương của tiếp tuyến chung tới Ø' với một lượng bằng 5. Chuyển dời vô cùng bé này có thể xây ra được bởi vì độ chênh lệch giữa chiều đài của các thanh ở vị trí nằm nghiêng và vị trí nằm ngang là đại lượng vô cùng bé bậc hai. Thật vậy, chẳng hạn với thanh 8A độ chênh lệch này bằng: 2 2 c2 Aa = AB’ - AB = al {i+ ề -1lx~a ret ề -† =o. a 2\a 2a Sau khi 8 chuyển dời vô cùng bé ti B', diém B' cé khuynh huéng chuyén doi theo hai vòng tròn có tâm A và C voi ban kinh AB' va CB’, Hai dudng tron giao, - nhau nén B' khéng c6é kha nang chuyén động tiếp tục, hệ trở nén BBH.
Như vậy hệ đã cho chỉ có khả năng thay đổi dạng hình học vô cùng bé và là hệ BHTT Trong xây dựng người ta không dùng những hệ BHTT hoặc những hệ gần biến hình tức thời (những hệ BBH song cách bố trí có thể dễ dàng dẫn đến BHTT nếu thay đổi nhỏ vị trí của chúng, chẳng hạn hệ có dạng đường đứt nét ÁB'C trên hình 1.4) vì như sau này ta sẽ thấy, nội lực trong hệ gần biến hình tức thời rất lớn. Miếng cứng Hệ bất biến hình trong thực tế có nhiều hình dạng khác nhau nhưng cùng chung tính chất là có khả năng chịu tải trọng. Để tiện cho việc nghiên cứu ta có thể khái quát hóa các hệ bất biến hình bằng cách đưa ra khái niệm miếng cứng. Miếng cứng là một hệ phẳng bắt kỳ bắt biến hình một cách rõ rệt.
Ví dụ, các hệ trên hình 1.5 đều là các miếng cứng. Ta quy ước biểu diễn các miếng cứng như trên hình 1. Bậc tự do Khái niệm về bậc tự do đã được trình bày trong Cơ học cơ sở. Ở đây chỉ nhắc lại định nghĩa: 21 Bac tu do của hệ là số thông số độc lập đủ để xác định vị trí của hệ đối với một hệ khác được xem là bắt động.
Đối với một hệ trục tọa độ bất động trong mặt phẳng; một điểm có hai Đậc tự do là hai chuyển động tịnh tiến theo hai phương bất kỳ khác nhau, còn một miếng cứng có ba bậc tự do là hai chuyển động tịnh tiến theo hai phương bất kỳ khác nhau và một chuyển động quay quanh giao điểm của hai phương đó. Các loại liên kết Để nối các miếng cứng với nhau ta dùng các liên kết, Liên kết có thể đơn giản hay phức tạp. A, Liên kết đơn giản Liên kết don giản là liên kết chỉ nói hai miếng cứng với nha u. Người ta chia liên kết đơn giản thành ba loại như sau: 1.
Liên kết loại một hay liên kết thanh Cấu tạo của liên kết này là một thanh có khớp lý tưởng ở hai đâu. Nếu dùng liên kết thanh để nối miếng cứng Ö vào miếng cứng A được xem là bất động (hình I.7a) thì sẽ khử được một bậc tự do của miếng cứng B đối với miếng cứng A vì 8 không thể di chuyển theo phương dọc trục tha nh. Đó là tính chất động học của liên kết thanh. Về mặt ;ĩnh học, trong liên kết thanh có thể phát sinh một phản lực liên kết dọc theo trục thanh (hình 1.7 b) Như vậy, một liên kết thanh khử được một bac tw do và phát sinh trong đó một phản lực dọc trục thanh.
Căn cứ vào tính chất nói trên ta thấy cấu tạo của liên kết thanh không nhất thiết phải là thanh thẳng như trên hình 1.7a mà có thể là một miếng cứng bất kỳ miễn là hai đầu có khớp lý tưởng như trên hình 1. Trong trường hợp này liên kết vẫn. 72⁄4 khử được một bậc tự do theo phương dọc 2n 2 co 5) theo đường nối hai khớp và trong liên kết 1 ⁄2 vẫn phát sinh một phân lực hướng theo phướng nói trên.7 Liên kết thanh là khái niệm mở rộng của gối tựa di động. Liên kết thanh dùng 2 nN để nối hai miếng bất kỳ còn gối tựa di động là liên kết dùng để nối một miếng cứng với trái đất.
Nếu xem trái đất là một miếng cứng thì gối tựa di động chính là một trường hợp đặc biệt của liên kết thanh. Liên kết loại hai hay liên kết khớp Cấu tạo của liên kết khớp như trên hình 1. a ZS Khi dùng liên kết khớp để nối miếng cứng B VAL BH} vào miếng cứng A được xem là bất động thì hà Ị 4 liên kết này khử được hai bậc tự do của B so @ với 4 vì miếng cứng Ö không thể chuyển V 72 777772 động tịnh tiến theo hai phương bất kỳ nào CF QY trong mặt phẳng đang xét mÄ chỉ có thể quay ° quanh miếng cứng A tại khớp K. Trong liên P : +7 kết sẽ phát sinh một phản lực đặt tại K nhưng có phương bất kỳ nên có thể phân tích thành hai thành phần theo hai phương xác định giao nhau tại khớp K (hình 1.8 Như vậy, một liên kết khóp khứ được hai bậc tự do và phát sinh hai thành phân phân lực đi qua khớp.
: a Vé mặt động học, liên kết khớp tương đương với hai liên kết thanh. Nếu nối miếng cứng Ö với miếng cứng A bằng hai thanh thì miếng cứng bị khử mất hai bậc tự do và chỉ còn có thể quay quanh giao điểm K của hai thanh (hình 1. Ta gọi giao điểm đó là khớp giả tạo. Tương tự như đã trình bày ở trên, liên kết khớp là một khái niệm mở rộng của _ gối tựa bất động quen biết.
Liên kết loại ba hay liên kết hàn : có Dùng một mối hàn để nối miếng cứng Ö với -. miếng cứng cố định A tức là gắn chặt Ø vào A (hinh 1. bey Lúc này mối hàn khử được ba bậc tự do của 8 đối với A. Thật vậy, miếng cứng 8.không b) ~~ — di chuyển tịnh tiến và cũng không quay được (2 so với A.
Tà Trong liên kết hàn phát sinh một phản lực có phương và điểm đặt bất kỳ.9 Đưa lực này về một điểm xác định tại mối hàn ta sẽ được một thành phần 23 momen va hai thành phân phản lực hướng theo hai phương xác định nào đó. Như vậy, một liên kết hàn khử được ba bậc tự do và phát sinh ba thành phân nm ' + : †1 phản lực. Về mặt động học, một liên kết hàn tương đương với ba liên kết thanh hay tương đương với một thanh và một khớp nếu chúng được sắp xếp hợp lý (dưới đây ta sẽ tìm hiểu vẻ điều kiện sắp xếp hợp lý). Liên kết hàn là khái niệm mở rộng của liên kết ngàm đã quen biết.
Liên kết phúc tạp " Liên kết phức tạp là liên kết nối nhiều miếng cứng, sô miếng cứng lớn hơn hai Trong thực tế ta có thể gặp các liên kết phức tạp dưới dạng khớp phức tạp (hình I.10a) hoặc liên kết hàn phúc rạp (hình 1. Để tiện cho việc nghiên cứu, người ta thường quy đổi liên kết phức tạp thành các liên kết đơn giản cùng loại tương đương. Do đó cần xây dựng khái niệm về độ phúc tạp. Độ phức tạp của một liên kết phức tạp là số liên kết đơn giản cùng loại tương đương với liên kết phức tạp đó.
Ví dụ liên kết khớp phức tạp trên hình I.I0a tương đương với hai liên kết khớp đơn giản. Thật vậy, coi Á là miếng cứng cố định, nối B với A bằng khớp K sẽ khử được hai bậc tự do của 8. Tiếp đó nối € với Á cũng'bằng khớp K sẽ khử được hai bậc tự do của Œ.