sa) THU VIEN | cHiNH TR] QUOC GIA HO CHi MINH 335.4 KHOA TRIET HOC GIAO 2002 20111410 GIAO TRINH CHU NGHIA DUY VAT BIEN CHUNG ( Hệ cử nhân chính trị ) Giáa trình chủ ÌÌlÌlllll[|| :xoxr ›+x c::: +:: oc5‹ c:^ 20111410 GIAO TRINH CHỦ NGHĨA DUV VAT BIỆN CHỨNG ( Hệ cử nhân chính trị ) HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH KHOA TRIẾT HỌC GIÁO TRÌNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG (Hệ cử nhân chính trị) NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Hà Nội - 2002 TẬP THỂ TÁC GIÁ | GS,TS. ` LÊ HỮU NGHĨA | Th. DAO HOU HAI PGS,TS. TRAN XUAN SAM TS.
VŨ VĂN THUẤN PGS, TS. TRAN PHUC THANG PGS, TS. VŨ NHẬT KHÁI - CHÚ DAN CỦA NHÀ XUẤT BẢN Nhằm cung cấp tài liệu nghiên cứu, học tập cho học viên và cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong các trường Đảng và các trường chính trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Giáo trình chủ nghĩa duy uật biện chứng (Hệ cử nhân chính tr, do khoa Triết học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn. Nội dung cuốn sách gồm năm chương: chủ nghĩa duy vật mácxít; phép biện chứng duy vật với nhận thức và cải tạo thế giới; các cặp phạm trù cơ bản của phép duy vật biện chứng; các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật; sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức thế giới khách quan.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. _ Tháng 1 năm 2002 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA CHUONG I CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁC XÍT 1- QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ VẬT CHẤT 1. Sự phát triển của quan niệm triết học về vật chất Vật chất là một phạm trù cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa duy vật; xung quanh phạm trù vật chất luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghiã duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Phạm trù vật chất xuất hiện từ khi triết học mới ra đời trong thời kỳ cổ đại dưới chế độ chiếm hữu nô lệ.
Tuy nhiên, nội dung của phạm trù này không phải bất biến, mà luôn biến đổi và phát triển. - Khuynh hướng chung của các nhà duy vật cổ đại là đi tìm một uậ¿ ban đầu nào đó và co nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một, thực thể chung, là : ở sở bất biến của toàn bộ tôn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và được gọi là uật chất (tiếng latinh là materia). Cac nhà duy vật cổ đại quan niệm vật chất cũng khác nhau.
Thí dụ, Talét (624- 547 trước công nguyên) coi vật chất là nước; Anaximen (585- 524 trudc công nguyên) coi vật "chất là không khí, Hêraclt (540-480 trước công nguyên) coi vật chất là /ứa; Đêmôcrít (460-370 trước công nguyên) coi vat chất là nguyên tử. Nói chung, các nhà duy vật cổ đại hiểu vật chất dưới dạng cam tính va quy vật chất thành một vật cụ thể, cố định. Mặc dù có hạn chế lịch sử, song những quan niệm nêu trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống quan điểm duy tâm thời bấy giờ. Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra nguyên tử, cho nên quan niệm thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất càng được khẳng định.
Quan niệm này đã tồn tại và được các nhà triết học duy vật và cả các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế ky XIX. Lịch sử triết học đã xác nhận công lao to lớn, đóng góp quan trọng vào việc phát triển quan niệm về vật chất và tính thống nhất thế giới của các nhà duy vật thế kỷ XVII như Ph.Spinôda; các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII như P. Henvêtiúyt, Gi. La Mettơri.
Pinôda đã phát triển quan niệm về vật chất như là nguyên nhân của bản thân nó với vô số các thuộc tính, Hônbách 8 đã xem xét vũ trụ với tư cách là vật chất vận động và vận động là sự chuyển chỗ trong không gian: vật chất là vật thể, tức là những cái gì tác động bằng một cách nào đó đến các giác quan của chúng ta.'; Điđrô và Hônbách đã nhấn mạnh tính nhiều chất của vật chất, tính nhiều vẻ, vô tận và các thuộc tính năng lực của vật chất. Mặc dù đã có những bước phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, song quan niệm đó của các nhà duy vật thế kỷ XVH - XVII về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới,. đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử, hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh của cơ học cổ điển của Niutơn - môn học được coi là hoàn thiện nhất thời bấy giờ.
Cơ học Niutơn coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể to nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia được - là nguyên tử, đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực thể hiện qua các định luật cơ học; vận động, không gian và thời gian. Những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau.Ăngghen đã kế thừa những giá trị tích 1.Hônbách: Tuyển tập, t. cực, đồng thời vạch ra những hạn chế trong quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước đó; và đã tổng kết các thành tựu của khoa học hiện đại, khái quát và hình: thành một quan niệm khoa học về phạm trù vật chất. ` Các ông nêu lên sự đối lập giữa vật chất và ý thức, về _ tính thống nhất vật chất của thế giới, về tính khái quát của phạm trù vật chất và sự tồn tại của vật chất dưới dạng cụ thể.Ănghen nhấn mạnh rằng, cần phân biệt các dạng tổn tại khách quan của vật chất và khái niệm về vật chất.
Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không tồn tại cảm tính. Khác với các đối tượng vật chất cụ thể, "những từ như "vật chất" và "vận động" chỉ là những sự tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung của chúng, rất. nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan"? Ph.Ăngghen phê phần quan điểm đem quy vật, chất về nguyên tử, về những hạt nhỏ đồng nhất, hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về số lượng; ông coi những quan điểm đó là siêu hình, là cơ giới. Ông đã nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính không thể sáng tạo và không thể tiêu điệt được của vật chất và các hình thức tổn tại của vật chất là vận động, không gian và thời gian.
Tuy nhiên, khi đó Mác và Ph. Ăngghen chưa có điều kiện đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật 1.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t. 10 chất, nhưng những tư tưởng về vật chất đó đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của khoa học thời bấy giờ.
Nó là cơ sở trực tiếp để V. Lénin phát triển học thuyết duy vật biện chứng về vật chất sau này. _9, Bản chất của quan niệm duy vật biện chứng về vật chất : Trong những tác phẩm triết học của mình, V. Lênin đã rất chú ý phạm trù "vật chất" và học thuyết về vật chất nói chung.
Vì đó là điều cần thiết để phát triển triết học duy vật và giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, trên thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên, nó được đánh dấu bằng một loạt những phát minh quan trọng như việc tìm ra tia Rơnghen, phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của một số nguyên tố hoá học nặng, tìm ra điện tử (êlếctrôn), xác định sự phụ thuộc của khối lượng các hạt vào tốc độ vận động của chúng.Những phát minh khoa học đó là một bước tiến của loài người trong việc nhận thức và làm chủ giới tự nhiên, đồng thời cũng đối lập với những quan niệm máy móc, siêu hình đang thống trị trong khoa học thời bấy giờ. Trước những phát minh mới đó của vật lý học, các nhà triết học duy tâm và cả một số nhà khoa học, đặc biệt trong lnh vực vật lý học, những người chỉ "giỏi về khoa học, 11 nhưng kém cỏi về triết học" đã giải thích sai lầm hoặc xuyên tạc những phát minh ấy. Họ cho rằng, "vật chất đã biến mat", và do đó, chủ nghĩa duy vật cũng bị "biến mất" theo.
Nhà vật lý học nổi tiếng người Pháp A.Poanhcarê kết luận rằng, không có vật chất, "tất cả cái gì không phải là tư tưởng đều là hư vô thuần tuý."; nhà triết học duy tâm kiêm nhà vật lý học người Áo là E.Makhơ khẳng định, tất cả cái gì không phải là cảm giác của chủ thể đều là hư vô.Makhơ phủ nhận tính thực tại của các nguyên tử, cũng có nghĩa là phủ nhận tính thực tại của vật thể với đặc trưng quan trọng của nó là khối lượng. ˆ Xu hướng chung của các nhà duy tâm là phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất. Họ cho rằng, trong thế giới không có gì ngoài tư tưởng hoặc những ấn tượng cảm tính của chủ thể, thế giới dường như do những "yếu tố cảm tính" tạo thành, sự vật là "phức hợp các cảm. Những quan điểm triết học sai lầm của một số nhà vật lý thuộc trường phái "vật lý học mới" chịu ảnh hưởng của quan điểm duy tâm và siêu hình mà không biết vươn lên quan điểm duy vật biện chứng đã gây nên cuộc khủng hoảng trong vật lý học thời bấy giờ: V.LLênin đã khái quát những thành tựu mới nhất của vật lý học, phê phán những quan điểm duy tâm, 1.
A Poanhearé: Giá trí của khoa học, “Matxcova, 1906, tr. 12 siêu hình, thuyết không thể biết về vật chất, bảo vệ và phát triển quan niệm duy vật biện chứng của C.