CHƯƠNG I: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG Mã chương: MH12 - 01 Giới thiệu: Nội dung bài học đưa ra những vấn đề mang tính khái quát để người học hiểu được tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn trong lao động nói chung và an toàn điện nói riêng. Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, mục đích, ý nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động - Xác định đúng các yếu tố nguy hiểm và có hại đối với người lao động; các biện pháp tổ chức bảo hộ lao động - Tuân thủ đúng quy định, quy phạm về kỹ thuật an toàn lao động. Nội dung chính: 1. Khái niệm cơ bản về bảo hộ lao động và an toàn lao động 1.
Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động 1. Mục đích Mục đích của công tác BHLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại được phát sinh trong quá trình sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi. Ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng người lao động và cơ sở vật chất, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.Ý nghĩa của công tác BHLĐ Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất. Bảo hộ lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người nên nó mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Mặt khác, nhờ chăm lo sức khoẻ của người lao động mà công tác BHLĐ mang lại hiệu quả xã hội và nhân đạo rất cao. BHLĐ là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, điều hành và triển khai sản xuất. BHLĐ mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị và xã hội. Lao động tạo ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển.
Bất cứ dưới chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất. Xây dựng quốc gia giàu có, tự do, dân chủ cũng nhờ người lao động.Trí thức 6 mở mang cũng nhờ lao động (lao động trí óc) vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài người 1. Tính chất và nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động: 1. Tính chất BHLĐ thoả mãn 3 tính chất chủ yếu là: pháp lý, khoa học kỹ thuật và tính quần chúng - BHLĐ mang tính chất pháp lý Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện.
Những chính sách, chếđộ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nước. Xuất phát từ quan điểm: Con người là vốn quý nhất, nên luật pháp về bảo hộ lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, mọi cơ sở kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, và thực hiện. Đó là tính pháp lý của công tác bảo hộ lao động - BHLĐ mang tính khoa học kỹ thuật (KHKT) Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp. đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT.
Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giảipháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật. Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác bảo hộ lao động ngày càng phổ biến. Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng tia gamma (γ), nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ thì không thể có biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Nghiên cứu các biện pháp an toàn khi sử dụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu mà còn nhiều vấn đề khác như sự cân bằng của cần cẩu,tầm với, điều khiển điện, tốc độ nâng chuyển.
Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái, muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp không những phải hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá. mà còn cần phải có các kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động.Vì vậy công tác bảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp. - BHLĐ mang tính quần chúng Tất cả mọi người từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là đối tượng cần được bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công tác BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác.
Nhiệm vụ BHLĐ có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Công nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui trình công nghệ. do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp về kỹ thuật an toàn, tham gia góp ý kiến về mẫu mã, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc… Mặt khác dù các qui trình, quy phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu, nhưng công nhân chưa được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm. Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảo mọingười thamgia.
Chonên BHLĐ chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành quan tâm, được mọi người lao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các luật lệ, chế độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làmviệc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và trước hết là người trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động. BHLĐ bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội, vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng sâu rộng.
Những khái niệm cơ bản về bảo hộ và an toàn lao động 1. Điều kiện lao động và tai nạn lao động - Điều kiện lao động là một tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí, tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. - Tai nạn lao động: Là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, do tác động đột ngột từ bên ngòai, làm chết người hay làm tổn thương hoặc phá hủy chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận cơ thể. Các yếu tố nguy hiểm và có hại - Các yếu tố vật lý như: Nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại và bụi.
- Các yếu tố hóa học: Các chất độc, các lọai hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ. - Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật: Các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn. - Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc,nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh. Các yếu tố tâm lý không thuận lợi, … 8 1.
Công tác tổ chức bảo hộ lao động 1. Các biện pháp bảo hộ lao động bằng các văn bản pháp luật - Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về KHKT, tổ chức, kinh tế, xã hội để lọai trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi, và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sức khỏe cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động. Nhằm đảm bảo an tòan, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển LLSX, tăng năng xuất lao động. - Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của LLSX là NLĐ.
Mặt khác, việc chăm lo sức khỏe cho người lao động mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo.Các văn bản pháp luật như sau: 1./ Bộ luật Lao động và các luật, Pháp lệnh có liên quan đến an toàn vệ sinh lao động: - Căn cứ vào qui định của Điều 56 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua ngày 23/06/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995. - Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất. Vì vậy, nó có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống Pháp luật quốc gia. - Một số luật, Pháp lệnh có liên quan đến an toàn vệ sinh lao động: + Luật Bảo vệ Môi trường (1993).
+ Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989). + Pháp lệnh quy định việc quản lý Nhà nước đối với công tác Phòng cháy, chữa cháy (1961). + Luật Công đoàn (1990). + Luật Hình sự (1999)./ Nghị định 06/CP và các Nghị định khác có liên quan: 3./ Các chỉ thị, Thông tư có liên quan đến an toàn vệ sinh lao động.
Biện pháp tổ chức: 1.