Chương 1 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG Mã chương: 07-02 Giới thiệu: Chương này trình bày các yếu tố môi trường tác động đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của người lao động. Đồng thời nêu các biện pháp phòng chống giúp người lao động bảo vệ sức khỏe của mình trong các tình huống nguy hiểm khi bị các yếu tố tác động. Vì vậy nội dung chương này sẽ đề cập đến: 1. Phòng chống nhiễm độc hóa chất.
Phòng chống bụi. Phòng chống cháy nổ. Thông gió công nghiệp. Mục tiêu: - Trình bày được tác động của nhiễm độc hoá chất lên cơ thể con người.
Thực hiện các biện pháp phòng chống nhiễm độc hoá chất. - Giải thích được tác động của bụi lên cơ thể con người. Thực hiện các biện pháp phòng chống bụi. - Phân thích được nguyên nhân gây cháy, nổ.
Thực hiện các biện pháp phòng chống cháy nổ. - Giải thích được tác dụng của việc thông gió nơi làm việc. Tổ chức thông gió nơi làm việc đạt yêu cầu. - Rèn được tính cẩn thận, phương pháp học tư duy và nghiêm túc trong công việc.
PHÒNG CHỐNG NHIỄM ĐỘC HÓA CHẤT Trong các ngành sản xuất công nghiệp hiện nay sử dụng rất nhiều các loại hóa chất. Vì thế người lao động cần phải có hiểu biết về tác dụng của chúng để có các biện pháp phòng chống những tác hại của nó trong điều kiện lao động của mình.1 Tác dụng của hóa chất lên cơ thể con người: + Nhóm gây kích thích và gây bỏng: Tác động kích thích của hóa chất làm hại chức năng hoạt động của các bộ phận cơ thể tiếp xúc với hóa chất như da, mắt, đường hô hấp… gồm xăng, dầu, axit, sút (NaOH), vôi,… + Nhóm gây dị ứng với da, đường hô hấp: gây hiện tượng da bị dị ứng như vết phỏng nước, mụn gồm thuốc nhuộm hữu cơ, nhựa than đá,… + Nhóm gây ngạt thở: với các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và rối loạn hành vi gồm cacbonic, mêtan, nitơ, xianua,… Biên soạn: GV Nguyễn Văn Tế Page 15 GT An toàn lao động – An toàn điện + Nhóm gây mê và gây tê: khi tiếp xúc thường xuyên với axêtôn, êtanol (C2H5OH), axêtylen, xăng,…ở nồng độ thấp sẽ gây nghiện, còn nếu ở nồng độ cao có thể làm suy yếu hệ thần kinh trung ương, gây ngất, thậm chí dẫn tới tử vong. + Nhóm gây ung thư: sau khi tiếp xúc với một số hóa chất như amiăng, crôm, niken, bụi gỗ, bụi da,…thường sau khoảng 440 năm có thể gây ung thư phổi, mũi và xoang. + Gây hư thai (quái thai): Các hóa chất như thủy ngân (Hg), khí gây mê, các dung môi hữu cơ có thể cản quá trình phát triển của bào thai nhất là trong ba tháng đầu, đặc biệt là các tổ chức quan trọng như não, tim, tay và chân sẽ gây ra biến dạng bào thai, làm hư thai.
+ Nhóm ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai: các hóa chất tác động đến cơ thể người gây đột biến gen, tạo nên những biến đổi không bình thường cho thế hệ tương lai, như hậu quả của chất độc điôxin, một hàm lượng tạp nhỏ có trong chất diệt cỏ. Theo kết quả nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm cho thấy 80 85% các chất gây ung thư có thể gây đột biến gen.2 Hóa chất gây bệnh nghề nghiệp: + Chì, hợp chất chì: được dùng nhiều trong công nghiệp vật liệu như accu chì, đồ sành sứ, thủy tinh, sản xuất bột chì màu, xăng pha chì,… Chì có thể vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hóa, qua da gây độc chủ yếu cho hệ tiêu hóa (gây táo bón, viêm ruột,…), hệ tạo máu (giảm hồng cầu, bạch cầu), hệ thần kinh (suy nhược, viêm dây thần kinh…). + Thủy ngân và hợp chất của nó: được sử dụng phổ biến trong công nghiệp sản xuất thuốc giun calomen, thuốc lợi tiểu, thuốc bảo vệ thực vật…Chúng xâm nhập cơ thể làm thương tổn hệ thần kinh (giảm trí nhớ, mất ngủ), gây rối loạn tiêu hóa, viêm răng lợi, rối loạn chức năng gan…với nữ giới còn gây rối loạn kinh nguyệt, xảy thai. + Cacbon ôxit: Chất khí không màu, không mùi, không kích thích được tạo ra do cháy không hoàn toàn ở mỏ, lò cao, máy nổ…thường gây ngạt thở hóa học khi hít phải nó.
Nhiễm độc cấp thường gây đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi, sút cân. + Benzen: được dùng nhiều trong kỹ nghệ nhuộm, dược phẩm, nước hoa, làm dung môi hòa tan dầu mỡ, sơn, cao su, làm keo dán giày dép, trong xăng (520%). Vào cơ thể chủ yếu bằng đường hô hấp gây ra hội chứng thiếu máu nặng, chảy máu răng lợi, thậm chí gây suy tủy, giảm hồng cầu bạch cầu…, làm thương tổn hệ thần kinh trung ương. + Thuốc trừ sâu hữu cơ trong bảo vệ cây trồng, diệt nấm mốc, ruồi muỗi: Hiện người ta đã cấm sử dụng: 666, DDT, Taxophen,hợp chất lân hữu cơ, DDVP (Dimetyl diclorovinyl photphat)…thường gây nhiễm độc cấp tính do thấm qua da, đường hô hấp Biên soạn: GV Nguyễn Văn Tế Page 16 GT An toàn lao động – An toàn điện làm liệt cơ hoặc gây ra hội chứng suy nhược thần kinh sau thời gian dài làm việc với chúng.3 Nguyên tắc và biện pháp phòng ngừa tác hại của hóa chất: Mục đích của hoạt động dự phòng tác hại của hóa chất là nhằm loại trừ hoặc giảm tới mức thấp nhất mọi rủi ro bới các hóa chất nguy hiểm độc hại cho sức khỏe con người và môi trường lao động.
a/ Hạn chế hoặc thay thế hóa chất độc hại: thí dụ như sử dụng sơn hoặc keo tan trong nước thay cho loại tan trong dung môi hữu cơ. Các nhà máy hiện đại được sản xuất theo phuong pháp tự động hóa, điều khiển từ xa sẽ tránh được nhiễm độc cho người lao động. b/ Che chắn hoặc cách ly nguồn phát sinh hóa chất nguy hiểm: việc bao che máy móc bằng vật liệu thích hợp, hoặc ngăn cách bằng rào chắn, tường, cây xanh phải phù hợp với đặc điểm kỹ thuật của nguồn phát sinh hóa chất nguy hiểm. c/ Thông gió: tùy điều kiện cụ thể người ta sử dụng hệ thống thông gió tự nhiên, thổi (hút) cục bộ, ống khói cao,…để đảm bảo lượng oxy cần thiết và giảm lượng hóa chất độc hại.
d/ Bảo vệ sức khỏe người lao động: là những biện pháp hỗ trợ thêm cho các biện pháp kỹ thuật công nghệ, góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe khi tiếp xúc với hóa chất + Khám tuyển người lao động: trước khi tuyển nhận và định kỳ khám sức khỏe (3,6 tháng hoặc 1 năm tùy loại công việc). + Giáo dục, đào tạo cập nhật kiến thức, phổ biến kinh nghiệm và biện pháp chăm sóc sức khỏe. Biên soạn: GV Nguyễn Văn Tế Page 17 GT An toàn lao động – An toàn điện + Trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân: như mặt nạ, kính an toàn, quần áo bảo hộ, tạp dề, găng tay, ủng,… + Vệ sinh cá nhân: tắm và rửa sạch các bộ phận của cơ thể đã tiếp xúc với hóa chất sau khi làm việc. PHÒNG CHỐNG BỤI 2.1 Tác hại của bụi: Bụi bay qua cơ quan hô hấp vào phổi gây ra các bệnh như viêm mũi, họng, phế quản, viêm teo mũi, các bệnh về phổi.
Khi chúng ta thở, nhờ có lông mũi và màng niêm dịch mà những hạt bụi có kích thước lớn hơn 5 µm bị giữ lại ở hốc mũi tới 90%. Các hạt bụi nhỏ hơn theo không khí vào tận phế nang, ở đây bụi bị bao vây và tiêu diệt khoảng 90%, số còn lại đọng ở phổi gây ra bệnh bụi phổi và các bệnh khác. Bụi gây kích thích da, mụn nhọt, lở loét, sưng tấy. Bụi vào mắt gây viêm mi mắt, mộng thịt.
Bụi axit, kiềm gây bỏng mắt và có thể dẫn tới mù mắt. Bụi đường, bột đọng lại ở răng gây sâu răng, bụi kim loại vào dạ dày gây tổn thương niêm mạc, rối loạn tiêu hóa.2 Các biện pháp phòng chống bụi: a/ Biện pháp chung: Cơ khí hóa và tự động hóa quá trình sản xuất đó là khâu quan trọng nhất để công nhân không phải tiếp xúc trực tiếp với bụi và bụi ít lan tỏa ra ngoài. Bao kín thiết bị và có thể là cả dây chuyền sản xuất khi cần thiết. Biên soạn: GV Nguyễn Văn Tế Page 18 GT An toàn lao động – An toàn điện b/ Thay đổi phương pháp công nghệ: Thí dụ như trong xưởng đúc làm sạch bằng nước thay cho làm sạch bằng cát, dùng phương pháp ướt thay cho phương pháp khô trong công nghiệp sản xuất xi măng.
Thay vật liệu có nhiều bụi độc bằng vật liệu ít độc như dùng đá mài cacbuarun thay cho đá mài tự nhiên có thành phần chủ yếu là SiO2. c/ Che phủ nơi sinh bụi, sử dụng ống thoát khí, hút bụi. Tạo môi trường ẩm. d/ Vệ sinh cá nhân: sử dụng quần áo bảo hộ lao động, mặt nạ, khẩu trang,…khám tuyển định kỳ cho nhân viên làm việc trong môi trường nhiều bụi, phát hiện sớm các bệnh do bụi gây ra.
Biên soạn: GV Nguyễn Văn Tế Page 19 GT An toàn lao động – An toàn điện 3. PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ 3.1 Các tác nhân gây ra cháy nổ: Để quá trình cháy xuất hiện và phát triển được cần phải có ba yếu tố: chất cháy, chất oxy hóa và mồi bắt cháy (nguồn nhiệt). Thiếu một trong ba điều kiện ấy thì sự cháy sẽ ngừng. a/ Chất cháy: Trong thực tế, chất cháy rất phong phú và có thể ở dạng rắn (gỗ tre, vải, giấy,…), lỏng (xăng, dầu, cồn rượu,…) hoặc khí.
Bản chất và trạng thái của chất cháy có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ cháy. b/ Chất oxy hóa: cũng đa dạng và có thể ở dạng rắn, lỏng hoặc khí. Chất oxy hóa có thể là oxy nguyên chất, không khí, clo, lưu huỳnh, các hợp chất chứa oxi khi bị nung nóng sẽ phân hủy và tạo ra oxy tự do. Dù quá trình cháy xảy ra ở thể nào thì tỷ lệ pha trộn giữa các chất cháy và chất oxy hóa đều có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì hỗn hợp quá nghèo hoặc quá giàu chất cháy đều không thể cháy được.
c/ Mồi bắt cháy: có nhiều dạng như ngọn lửa, tia lửa điện, hồ quang điện, tàn lửa, tia lửa sinh ra do ma sát, va đập, sét, tĩnh điện,…Sự cháy chỉ có thể xảy ra khi lượng nhiệt cần cung cấp cho hỗn hợp đủ để cho phản ứng cháy bắt đầu và lan rộng ra. Biên soạn: GV Nguyễn Văn Tế Page 20 GT An toàn lao động – An toàn điện Các ngọn lửa trần khác nhau thường có nhiệt độ từ 700 1300oC, các tàn lửa cũng có nhiệt độ 800 oC. Nhiệt độ trên đều vượt quá nhiệt độ tự bốc cháy của đại đa số các hỗn hợp khí cháy (200 700 oC).