Mở đầu Giáo trình AN TOẦN LAO ĐỘNG được biên soạn theo đề cương do Vụ THCN ~-DN, Bộ Giáo dục & Đào tạo xây dựng vd thông qua. Nội dung được biên soạn theo tinh thân ngắn gọn, dễ hiểu. Cúc kiến thức trong toàn bộ giáo trình có mối liên hệ lôgíc chặt chẽ. Tuy uậy, giáo trình cũng chỉ là một phần trong nội dụng của chuyên ngành đào tạo cho nên người dạy, người học cần tham khỏo thêm các giáo trình có liên quan đổi vdi ngành học để uiệc sử dụng giáo trình có hiệu quả hơn.
thức mới Khi biên soạn giáo trình, chúng tôi đã cố gắng cập nhật những kiến có liên quan đến môn học uà phù hợp uới đổi tượng sử dụng cũng như cố gắng sản gắn những nội dụng lí thuyết uới những uấn dé thục tế thường gặp trong xuất, đời sống để giáo trình có tính thực tiễn cao. Nội dung của giáo trình được biên soạn uới dung lượng 30 tiết, gồm : 2. Những vấn để chung về khoa học bảo hộ lao động ¡ Chương vệ sinh lao Luật pháp,chế độ chính sách bảo hộ lao động ; Chương 3. Kĩ thuật toàn hoá chất ; động ; Chương 4.
Kĩ thuật an toàn điện ; Chương 5. Kĩ thuật an bị nâng ; Chương 6. Kĩ thuật an toàn trong cơ khí, thiết bị chịu áp lực và thiết Chương 7. Ki thuật phòng cháy, chữa cháy.
Trong quá trình sử dụng, tùy theo yêu câu cụ thể có thể điêu chỉnh số tiết thực tập trong mỗi chương. Trong giáo trình, chúng tôi không để ra nội dung trường không của từng chương uì trang thiết bị phục vy cho thực tập của các năng đông nhất. Vì uậy, căn cứ uào trang thiết bị đã có của từng trường uà khả xây dụng thời tổ chức cho học sinh thực tập ở các xí nghiệp bên ngoài mà trường thiểu nói chung lượng oà nội dụng thực tập cụ thể - Thời lượng thực tập tối cũng không ít hơn thôi lượng học lí thuyết của mỗi môn. nhân lành Giáo trình được biên soạn cho đối tượng là học sinh THCN, Công uiên Cao đẳng kĩ nghề bậc 317 va nó cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh lĩnh uực thuật cũng nhú Kĩ thuật vién dang lam viée ở các cơ sở kinh tế nhiêu khác nhau.
Rất Mặc dù đã cố gắng những chắc chắn không tránh khôi hết bản sau được mong nhộn được ý biến đóng góp của người sử dụng để lần tái Hưng Đạo, Hà Nội. Mọi góp ý xin được gửi uề Nhà XBGD ~81 Trên TÁC GIÁ Chuong 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE KHOA HOC BAO HO LAO DONG 1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Điều kiện lao động Điều kiện lao động là một tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế, xã hội, được biểu biện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí, tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Đánh giá, phân tích điều kiện lao động phải tiến hành đánh giá, phân tích đồng thời trong mối quan hệ tác động qua lại của tất cả các yếu tố trên.
Các yếu tố nguy hiểm và có hại : Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Cụ thể là : - Các yếu tố vật lí như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi. - Các yếu tố hod học như các chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ. - Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vì khuẩn, kí sinh trùng, côn trùng, rắn.
'- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghỉ đo không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh. Các yếu tố tâm lí không thuận lợi. Tai nạn lao động Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, do tác động đột ngột từ bên ngoài, làm chết người hay làm tổn thương, hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể. sở fe # oes Khi bị nhiễm độc đột ngột thì gọi là nhiễm độc cấp tính, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huý hoại chức năng nào đó của cơ thể thì cũng được gọi là tai nạn lao động.
Bệnh nghề nghiệp Bệnh nghề nghiệp là sự suy yếu dần sức khoẻ của người lao động gây nên bệnh tật do tác động của các yếu tố có hại phát sinh trong quá trình lao động trên cơ thể người lao động. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA, TÍNH CHẤT CỦA CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG 1. Mục đích - ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kĩ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sẵn xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, han chế ốm đau và giảm sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đâm an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động. 1 Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là người lao động.
Mặt khác việc chăm lo sức khoẻ cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo. Tính chất của công tác bảo hộ lao động ˆ Bảo hộ lao động có 3 tính chất: - Tính chất khoa học kĩ thuật : vì mọi hoạt động của nó đêu xuất phat tir những cơ sở khoa học và các biện pháp khoa học kĩ thuật. pháp lí : thể hiện trong luật lao động, quỹ định rõ trách nhiệm và quyền lợi của-người lao động. - Tính chất quần chúng : người lao động là một số đông trong xã hội, ngoài những biện pháp khoa học kĩ thuật, biện pháp hành chính, việc giác ngộ nhận thức cho người lao động hiểu rõ và thực hiện tốt công tác bão hộ lao động là cần thiết.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ THUỘC PHẠM TRÙ LAO ĐỘNG 1. Lao động, khoa học lao động, vị trí giữa lao động và kĩ thuật - Lao động của con người là một sự cố gắng bên trong và bên ngoài thông qua một giá trị nào đó để tạo nên những sản phẩm tỉnh thần, những động lực và giá trị vật chất cho cuộc sống con người (Eliasberg 1926). Thế giới quan lao động được ghi nhận bởi những ảnh hưởng khác nhau, những điều kiện và những yêu cầu (hình 1. Xã hội Thế giới quan Kĩ thuật lao động - Điều kiện chính trị - Quá trình kĩ thuật - Điều kiện pháp luật - Sự trao đổi kĩ thuật - Điều kiện xã hội ~ Kĩ thuật an toàn - Điều kiện kinh tế.
- Kĩ thuật lao động, Môi trường ] Khoa học - Nhu cầu lao động - Khoa học y lọc - Điều kiện thị trường - Vị trí - Khoa học pháp luật - Thi trường lao động - Sự lan truyền. - Khoa học kinh tế Hình 1. Thế giới quan lao động Lao động được thực hiện trong một hệ thống lao động và nó được thể hiện với việc sử dụng những tri thức về khoa học an toàn. - Khoa học lao động là một hệ thống phân tích, sắp xếp, thể hiện những điều kiện kĩ thuật, tổ chức và xã hội của quá trình lao động với mục đích đạt hiệu quả cao.
Phạm vì thực tiên của khoa học lao động là: + Bảo hộ lao động là những biện pháp phòng tránh hay xoá bở những nguy biểm cho con người trong quá trình lao động. + Tổ chức thực hiện lao động là những biện pháp để đảm bảo những lời giải đúng đắn thông quá việc ứng dụng những trí thức về khoa học an toàn cũng như đầm bảo phát huy hiệu quả của hệ thống lao động. + Kinh tế lao động là những biện pháp để khai thác và đánh giá năng suất về phương diện kinh tế, chuyên môn, con người và thời gian. + Quản lí lao động là những biện pháp chung của xí nghiệp để phát triển, thực hiện và đánh giá sự liên quan của hệ thống lao động.
Khi đưa kĩ thuật vào trong các hệ thống sản xuất hiện đại sẽ làm thay đổi những động thái của con người, chẳng hạn như về mặt tâm lí. ea & Vidu: + Giám sát và bảo dưỡng những thiết bị lớn với sự tổng hợp cao (nguy hiểm khi đòi hỏi khác phục nhiễu nhanh, dưới mức yêu cầu của chạy tự động). + Yêu cầu chú ý cao khi làm việc với những vật liệu nguy hiểm cũng như trong quá trình nguy hiểm. + Làm việc trong các hệ thống thông tin hay hệ thống trao đổi mới và thay đổi.
+ Những hình thức mới của tổ chức lao động và tổ chức hoạt động. + Phân công trách nhiệm. Sự phát triển của kĩ thuật có ý nghĩa đặc biệt đo nó tác động trực tiếp đến lao động và kết quả dẫn đến là : + Chuyển đổi những giá trị trong xã hội. + Tăng trưởng tính toàn cầu của các cấu trúc hoạt động.
+ Những quy định về luật. + Đưa lao động đến gần thị trường người tiêu dùng. Tính nhân đạo và sự thể hiện nó là mục đích chủ yếu của khoa học lao động. Tương quan thay đổi giữa con người và kĩ thuật không bao giờ đừng lại, chính nó là động lực cho sự phát triển, đặc biệt qua các yếu tố : + Sự chuyển đổi các giá trị rong xã hội.
+ Sự phát triển dân số. + Công nghệ mới. + Cấu trúc sản xuất thay đổi. + Những bệnh tật mới phát sinh.
Khoa học lao động có nhiệm vụ : + Trang bị kĩ thuật, thiết bị cho phù hợp (hay tối ưu) với việc sử dụng của người lao động. + Nghiên cứu sự liên quan giữa con người trong những điểu kiện lao động về tổ chức và kĩ thuật.