Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Những thập kỷ gần đây, các xu hướng lớn của giao lưu, tiếp xúc văn hóa đã giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, trong đó có nhiều tài liệu bàn về những vấn đề lý luận, lý thuyết giao lưu văn hóa. Từ giao lưu văn hóa có lẽ do nhà nhân học Mỹ J.
Powell, sử dụng từ năm 1889 khi đề cập đến sự biến đổi của lối sống và lối suy nghĩ của người di dân khi tiếp xúc với xã hội Mỹ. Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1930 mới có tư tưởng hệ thống về hiện tượng gặp gỡ giữa các nền văn hóa và có định nghĩa về mặt khái niệm. Khái niệm giao lưu - tiếp biến văn hoá trở nên phổ biến vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX với các nhà nhân học văn hoá Bắc Mỹ thuộc trường phái “Chủ nghĩa tương đối văn hoá” (cultural relativism), được coi là một phương thức nhận thức các giá trị văn hoá. Cha đẻ được suy tôn của trường phái này là Franz Boas (1858- 1948) học giả người Mỹ gốc Đức và thế hệ những học trò của ông, trong đó tiêu biểu nhất là AL.
“Tiếp biến văn hoá bao gồm những biến đổi sản sinh ra trong một nền văn hoá do ảnh hưởng của một nền văn hoá khác, kết quả dẫn đến là sự tương đồng của hai nền văn hoá đó gia tăng. Ảnh hưởng có thể là tương hỗ hoặc lấn át một chiều” [52, tr. Năm 1936, Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Mỹ lập ra một ủy ban để tổ chức nghiên cứu các sự kiện giao lưu văn hóa, trong đó có Robert Redfield, Ralph Linton và Medville Herskovits. Trong Bản ghi nhớ nghiên cứu về giao lưu văn hóa (1936), ba nhà nhân học người Mỹ này đã định nghĩa khái niệm này như sau: “Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” [113, tr.
10 Các nhà nhân học chỉ ra rằng trong lịch sử nhân loại dường như không có cộng đồng nào lại hoàn toàn cô lập về không gian và thời gian, nghĩa là không trải qua các quá trình giao lưu văn hóa - lúc đầu là giữa các tộc người gần gũi nhau về địa lý và trình độ kinh tế - xã hội, sau đó mở rộng dần ra đối với các tộc người, các quốc gia cách xa nhau về địa lý cũng như trình độ phát triển. Cũng không loại trừ có nhiều nước là láng giềng của nhau, nhưng lại ít giao lưu và do đó ít hiểu biết về nhau, trong khi họ lại giao lưu nhiều và có sự hiểu biết nhiều hơn đối với các quốc gia, dân tộc ở rất xa biên giới của họ. Nhưng dẫu sao, trong tiến trình lịch sử này, người ta đã sớm nhận ra giao lưu văn hóa chính là một trong những động lực quan trọng để phát triển, mà trước hết là phát triển về năng lực và trình độ sản xuất. Sau những dự báo có tính chiến lược của các học giả nổi tiếng như A.Toffler với tác phẩm Làn sóng thứ ba, S.
Huntington với Sự va chạm của các nền văn minh, F.Fukuyama với chuyên luận Sự kết thúc của lịch sử và người đàn ông cuối cùng, Thomas L. Friedman với Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI. Đặc biệt, trong Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI, Fiedman đã nhấn mạnh các yếu tố văn hóa, vai trò của sự giao lưu, giao thoa văn hóa, văn minh giữa các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới để tạo nên một không gian văn hóa chung mang tính toàn cầu. Và nhìn chung, các công trình nổi tiếng trên đều nhằm đạt đến một cách tiếp cận tổng thể gắn với quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa của nhân loại, tìm hiểu một thế giới với các nền văn minh, trong lịch sử cũng như đương đại, sự thay đổi trật tự của các nền văn minh, vị trí mới cũng như sự va chạm và tương lai của các nền văn minh đó.
Cuối thế kỷ XIX, sự xuất hiện các lý thuyết Truyền bá luận trong nghiên cứu văn hóa đã đề cập và giải thích một số hiện tượng tương tự với hiện tượng tiếp xúc và giao lưu văn hóa như lý thuyết thiên di của Friedrich Ratzel (1844-1904), lý thuýêt vòng văn hoá của Fritz Graebner (1877-1934). để bàn về sự lan truyền/truyền bá diễn ra qua quá trình thiên di của các yếu tố văn hóa hoặc các tổ hợp văn hóa từ trung tâm đến các vùng. Thuật ngữ tiếp xúc và giao lưu văn hóa được sử dụng khá phổ biến trong nhiều ngành khoa học xã hội có đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội, nhân văn như khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học… Khái niệm tiếp xúc và 11 giao lưu văn hóa thường được đi liền nhau, được dịch từ những thuật ngữ như cultural contacts, cultural exchanges, acculturation của các nước phương Tây. Nhưng theo học giả Trần Quốc Vượng, “ngay bản thân ở các nước phương Tây, các khái niệm này cũng được dùng bởi những từ khác nhau.
Người Anh thích dùng chữ “Cultural Change” (có thể dịch là trao đổi văn hóa), người Tây Ban Nha dùng chữ “Transculturation” (có nghĩa là di chuyển văn hóa), người Pháp có thuật ngữ “Interpénétration des civilizations” (có nghĩa là sự hòa nhập giữa các nền văn minh), người Hoa Kỳ dùng thuật ngữ “Acculturation”. Đương nhiên, nội hàm của các thuật ngữ trên ở các nước có giới hạn chung, nhưng các thuật ngữ đều có những nét khác nhau nhất định về sắc thái” [113, tr. Ở Việt Nam, khái niệm acculturation được các nhà nghiên cứu dịch không thống nhất. Có người dịch là “văn hóa hóa”, có người dịch là “đan xen văn hóa”, có người dịch là “hỗn dung văn hóa”, lại có người dịch là “giao thoa văn hóa”… Cách dịch được nhiều người chấp nhận nhất là “giao lưu văn hóa”, tiếp xúc và biến đổi văn hóa.
Các nhà nghiên cứu Từ Chi, Trần Quốc Vượng, Phạm Đức Dương… đã bàn đến khái niệm giao lưu, tiếp xúc văn hóa (cultural contacts) trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm, Từ Văn hóa đến Văn hóa học. Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (2009), Trần Quốc Vượng tuy không nêu ra một định nghĩa cụ thể về giao lưu văn hóa nhưng các nhà nghiên cứu lại đồng tình với định nghĩa của các nhà khoa học Mỹ phát biểu năm 1963 (đã dẫn) nghĩa là coi giao lưu văn hóa là quá trình các nền văn hóa tiếp xúc lâu dài và trực tiếp đồng thời gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa của nhau. Cuốn sách nhấn mạnh: “giao lưu văn hóa vừa là kết quả của trao đổi, vừa là chính bản thân sự trao đổi. Có hiểu như vậy mới thấy hết tầm quan trọng của giao lưu văn hóa trong lịch sử nhân loại, vì sản xuất, trao đổi là động lực của sự phát triển của lịch sử.
Ngoài ra, khi bàn đến giao lưu và tiếp biến văn hóa, cuốn sách cũng khẳng định: “Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình này luôn đặt mỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh” [113, tr. 12 Tác giả Phạm Đức Dương trong bài viết Giao lưu văn hóa Việt Nam và thế giới, đã có sự phân biệt giao lưu và tiếp xúc văn hóa: “Khác với giao lưu văn hóa - sự gặp gỡ giữa các yếu tố văn hóa và làm phong phú thêm cho mỗi nền văn hóa, còn tiếp xúc văn hóa diễn ra trong một thời gian dài giữa hai mô hình văn hóa và kết quả là sự biến đổi mô hình văn hóa đi vay mượn” [160]. Theo tác giả Nguyễn Thế Cường, giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển.
Do đó giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa [159]. Tình hình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc 1. Các nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốctrước năm 2008 Do hoàn cảnh lịch sử, địa lý đặc biệt, mối quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành từ xa xưa, và được kế tục, trải qua nhiều biến thiên, thăng trầm suốt từ thời cổ đại đến ngày nay. Mối quan hệ Việt -Trung là mối quan hệ đa chiều, toàn diện và phức tạp, nên đã trở thành khách thể nghiên cứu của các nhà khoa học từ nhiều chuyên ngành với nhiều chiều cạnh khác nhau, cụ thể như: kinh tế, chính trị, văn hóa, văn học, lịch sử, quân sự.
- Các nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc trong thời kỳ cổ trung đại đến 1986 Đây là thời kỳ lịch sử thu hút nhiều nhà nghiên cứu cả ở Việt Nam và Trung Quốc. Phần lớn các học giả đều thừa nhận có một quá trình tiếp xúc văn hóa Việt - Hán từ thời cổ đại, trung đại. Tiêu biểu như tác giả Phạm Hồng Quý, Lưu Chí Cường, Trần Quốc Vượng, Đặng Đức Siêu, Phạm Đức Dương, Châu Thị Hải, Lý Tùng Hiếu. Nếu nói đến những công trình chuyên khảo về quan hệ giao lưu giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc ở Trung Quốc, không thể không kể đến những công 13 trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Phạm Hồng Quý (范红贵) [136].
Trong nhiều thập kỷ qua, ông đã công bố nhiều công trình có giá trị lớn viết về dân tộc, văn hóa, lịch sử… của Việt Nam. Những nghiên cứu của Phạm Hồng Quý được giới khoa học đánh giá cao và có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều thế hệ học trò và các học giả sau này, đặc biệt là cũng nhận được sư ̣quan tâm của cả lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc. Chẳng hạn như cuốn“Dân tộc cùng một gốc rễ” (同根生的民族) [148] được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu nhất, gây ảnh hưởng sâu rộng ở trong và ngoài nước.