Luận án tiến sĩ về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc từ năm 2008 đến nay

Luận án tiến sĩ văn hóa học phân tích giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc từ năm 2008, khám phá sự tương tác và ảnh hưởng văn hóa giữa hai quốc gia.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

212
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý luận của đề tài

2. CHƯƠNG 2: KHÁI LƯỢC TÌNH HÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TRONG LỊCH SỬ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

2.1. Khái lược tình hình giao lưu văn hoá Việt Nam - Trung Quốc trong lịch sử

2.2. Những yếu tố tác động đến giao lưu văn hoá Việt Nam - Trung Quốc từ năm 2008 đến nay

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

3.1. Giao lưu trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo

3.2. Giao lưu trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật

3.3. Giao lưu trên lĩnh vực phát thanh - truyền hình

3.4. Giao lưu trên lĩnh vực du lịch

4. CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIAO LƯU VĂN HOÁ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC THỜI GIAN TỚI

4.1. Tác động của giao lưu văn hoá Việt Nam - Trung Quốc đối với sự phát triển của hai quốc gia từ năm 2008 đến nay

4.2. Xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra trong quan hệ giao lưu văn hoá hai nước trong thời gian tới

4.3. Một số khuyến nghị nhằm phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong giao lưu văn hoá Việt Nam - Trung Quốc hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giao lưu văn hóa Việt Nam Trung Quốc từ 2008 đến nay

Giao lưu văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc từ năm 2008 đến nay đã trở thành một hiện tượng quan trọng trong bối cảnh hợp tác văn hóaquan hệ Việt - Trung. Sự kiện này được thúc đẩy bởi việc hai nước thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, tạo nền tảng cho các hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế. Các sự kiện văn hóa được tổ chức thường xuyên, từ lễ hội đến triển lãm, đã góp phần củng cố tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Văn hóa truyền thống của cả hai nước được quảng bá rộng rãi, đồng thời du lịch văn hóa cũng phát triển mạnh mẽ, thu hút lượng lớn khách du lịch từ cả hai phía.

1.1. Hợp tác văn hóa và sự kiện giao lưu

Hợp tác văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc được thể hiện qua nhiều sự kiện giao lưu như lễ hội, triển lãm, và các chương trình biểu diễn nghệ thuật. Những sự kiện này không chỉ quảng bá văn hóa truyền thống mà còn thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân hai nước. Ví dụ, các lễ hội văn hóa được tổ chức hàng năm đã trở thành cầu nối quan trọng trong quan hệ Việt - Trung. Đặc biệt, du lịch văn hóa đã phát triển mạnh mẽ, với số lượng khách du lịch từ Trung Quốc đến Việt Nam tăng đáng kể từ năm 2008.

1.2. Tác động của giao lưu văn hóa đến quan hệ hai nước

Giao lưu văn hóa đã có tác động tích cực đến quan hệ Việt - Trung, góp phần củng cố tình hữu nghị và thúc đẩy hợp tác văn hóa. Các hoạt động này không chỉ giúp quảng bá văn hóa truyền thống của hai nước mà còn tạo cơ hội để người dân hai nước hiểu biết lẫn nhau hơn. Tuy nhiên, cũng có những thách thức như sự mất cân bằng trong giao lưu văn hóa, đòi hỏi cả hai nước cần có những giải pháp phù hợp để duy trì và phát triển mối quan hệ này.

II. Thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam Trung Quốc

Thực trạng giao lưu văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc từ năm 2008 đến nay cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, văn học, nghệ thuật, và du lịch. Giao lưu văn hóa đã trở thành một phần quan trọng trong quan hệ Việt - Trung, với nhiều sự kiện văn hóa được tổ chức thường xuyên. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thách thức như sự mất cân bằng trong hợp tác văn hóa, đòi hỏi cả hai nước cần có những giải pháp phù hợp để duy trì và phát triển mối quan hệ này.

2.1. Giao lưu trong lĩnh vực giáo dục và văn học

Giao lưu văn hóa trong lĩnh vực giáo dục và văn học giữa Việt NamTrung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Các chương trình trao đổi sinh viên, học bổng, và hợp tác nghiên cứu đã góp phần nâng cao hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước. Đặc biệt, văn học Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn đến độc giả Việt Nam, với nhiều tác phẩm được dịch và xuất bản rộng rãi.

2.2. Giao lưu trong lĩnh vực du lịch và nghệ thuật

Du lịch văn hóanghệ thuật là hai lĩnh vực nổi bật trong giao lưu văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc. Số lượng khách du lịch từ Trung Quốc đến Việt Nam tăng đáng kể từ năm 2008, đóng góp lớn vào ngành du lịch của Việt Nam. Các chương trình biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, và lễ hội văn hóa cũng được tổ chức thường xuyên, tạo cơ hội để người dân hai nước hiểu biết lẫn nhau hơn.

III. Xu hướng và thách thức trong giao lưu văn hóa

Xu hướng vận động của giao lưu văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, với sự mở rộng trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, du lịch, và nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng có những thách thức cần được giải quyết, như sự mất cân bằng trong hợp tác văn hóa và nguy cơ xâm lăng văn hóa. Để duy trì và phát triển mối quan hệ này, cả hai nước cần có những giải pháp phù hợp, đặc biệt là trong việc bảo vệ và phát huy văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia.

3.1. Xu hướng phát triển giao lưu văn hóa

Xu hướng phát triển của giao lưu văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc trong tương lai sẽ tiếp tục mở rộng, với sự gia tăng trong các hoạt động hợp tác văn hóadu lịch văn hóa. Các sự kiện văn hóa sẽ được tổ chức thường xuyên hơn, tạo cơ hội để người dân hai nước hiểu biết lẫn nhau hơn. Đồng thời, văn hóa truyền thống của cả hai nước sẽ tiếp tục được quảng bá rộng rãi, góp phần củng cố tình hữu nghị giữa hai quốc gia.

3.2. Thách thức và giải pháp

Một trong những thách thức lớn nhất trong giao lưu văn hóa giữa Việt NamTrung Quốc là sự mất cân bằng trong hợp tác văn hóa, với ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Việt Nam lớn hơn chiều ngược lại. Để giải quyết vấn đề này, cả hai nước cần có những giải pháp phù hợp, như tăng cường quảng bá văn hóa truyền thống của Việt Nam và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân hai nước.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Những thập kỷ gần đây, các xu hướng lớn của giao lưu, tiếp xúc văn hóa đã giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, trong đó có nhiều tài liệu bàn về những vấn đề lý luận, lý thuyết giao lưu văn hóa. Từ giao lưu văn hóa có lẽ do nhà nhân học Mỹ J.

Powell, sử dụng từ năm 1889 khi đề cập đến sự biến đổi của lối sống và lối suy nghĩ của người di dân khi tiếp xúc với xã hội Mỹ. Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1930 mới có tư tưởng hệ thống về hiện tượng gặp gỡ giữa các nền văn hóa và có định nghĩa về mặt khái niệm. Khái niệm giao lưu - tiếp biến văn hoá trở nên phổ biến vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX với các nhà nhân học văn hoá Bắc Mỹ thuộc trường phái “Chủ nghĩa tương đối văn hoá” (cultural relativism), được coi là một phương thức nhận thức các giá trị văn hoá. Cha đẻ được suy tôn của trường phái này là Franz Boas (1858- 1948) học giả người Mỹ gốc Đức và thế hệ những học trò của ông, trong đó tiêu biểu nhất là AL.

“Tiếp biến văn hoá bao gồm những biến đổi sản sinh ra trong một nền văn hoá do ảnh hưởng của một nền văn hoá khác, kết quả dẫn đến là sự tương đồng của hai nền văn hoá đó gia tăng. Ảnh hưởng có thể là tương hỗ hoặc lấn át một chiều” [52, tr. Năm 1936, Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Mỹ lập ra một ủy ban để tổ chức nghiên cứu các sự kiện giao lưu văn hóa, trong đó có Robert Redfield, Ralph Linton và Medville Herskovits. Trong Bản ghi nhớ nghiên cứu về giao lưu văn hóa (1936), ba nhà nhân học người Mỹ này đã định nghĩa khái niệm này như sau: “Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” [113, tr.

10 Các nhà nhân học chỉ ra rằng trong lịch sử nhân loại dường như không có cộng đồng nào lại hoàn toàn cô lập về không gian và thời gian, nghĩa là không trải qua các quá trình giao lưu văn hóa - lúc đầu là giữa các tộc người gần gũi nhau về địa lý và trình độ kinh tế - xã hội, sau đó mở rộng dần ra đối với các tộc người, các quốc gia cách xa nhau về địa lý cũng như trình độ phát triển. Cũng không loại trừ có nhiều nước là láng giềng của nhau, nhưng lại ít giao lưu và do đó ít hiểu biết về nhau, trong khi họ lại giao lưu nhiều và có sự hiểu biết nhiều hơn đối với các quốc gia, dân tộc ở rất xa biên giới của họ. Nhưng dẫu sao, trong tiến trình lịch sử này, người ta đã sớm nhận ra giao lưu văn hóa chính là một trong những động lực quan trọng để phát triển, mà trước hết là phát triển về năng lực và trình độ sản xuất. Sau những dự báo có tính chiến lược của các học giả nổi tiếng như A.Toffler với tác phẩm Làn sóng thứ ba, S.

Huntington với Sự va chạm của các nền văn minh, F.Fukuyama với chuyên luận Sự kết thúc của lịch sử và người đàn ông cuối cùng, Thomas L. Friedman với Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI. Đặc biệt, trong Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI, Fiedman đã nhấn mạnh các yếu tố văn hóa, vai trò của sự giao lưu, giao thoa văn hóa, văn minh giữa các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới để tạo nên một không gian văn hóa chung mang tính toàn cầu. Và nhìn chung, các công trình nổi tiếng trên đều nhằm đạt đến một cách tiếp cận tổng thể gắn với quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa của nhân loại, tìm hiểu một thế giới với các nền văn minh, trong lịch sử cũng như đương đại, sự thay đổi trật tự của các nền văn minh, vị trí mới cũng như sự va chạm và tương lai của các nền văn minh đó.

Cuối thế kỷ XIX, sự xuất hiện các lý thuyết Truyền bá luận trong nghiên cứu văn hóa đã đề cập và giải thích một số hiện tượng tương tự với hiện tượng tiếp xúc và giao lưu văn hóa như lý thuyết thiên di của Friedrich Ratzel (1844-1904), lý thuýêt vòng văn hoá của Fritz Graebner (1877-1934). để bàn về sự lan truyền/truyền bá diễn ra qua quá trình thiên di của các yếu tố văn hóa hoặc các tổ hợp văn hóa từ trung tâm đến các vùng. Thuật ngữ tiếp xúc và giao lưu văn hóa được sử dụng khá phổ biến trong nhiều ngành khoa học xã hội có đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội, nhân văn như khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học… Khái niệm tiếp xúc và 11 giao lưu văn hóa thường được đi liền nhau, được dịch từ những thuật ngữ như cultural contacts, cultural exchanges, acculturation của các nước phương Tây. Nhưng theo học giả Trần Quốc Vượng, “ngay bản thân ở các nước phương Tây, các khái niệm này cũng được dùng bởi những từ khác nhau.

Người Anh thích dùng chữ “Cultural Change” (có thể dịch là trao đổi văn hóa), người Tây Ban Nha dùng chữ “Transculturation” (có nghĩa là di chuyển văn hóa), người Pháp có thuật ngữ “Interpénétration des civilizations” (có nghĩa là sự hòa nhập giữa các nền văn minh), người Hoa Kỳ dùng thuật ngữ “Acculturation”. Đương nhiên, nội hàm của các thuật ngữ trên ở các nước có giới hạn chung, nhưng các thuật ngữ đều có những nét khác nhau nhất định về sắc thái” [113, tr. Ở Việt Nam, khái niệm acculturation được các nhà nghiên cứu dịch không thống nhất. Có người dịch là “văn hóa hóa”, có người dịch là “đan xen văn hóa”, có người dịch là “hỗn dung văn hóa”, lại có người dịch là “giao thoa văn hóa”… Cách dịch được nhiều người chấp nhận nhất là “giao lưu văn hóa”, tiếp xúc và biến đổi văn hóa.

Các nhà nghiên cứu Từ Chi, Trần Quốc Vượng, Phạm Đức Dương… đã bàn đến khái niệm giao lưu, tiếp xúc văn hóa (cultural contacts) trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm, Từ Văn hóa đến Văn hóa học. Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (2009), Trần Quốc Vượng tuy không nêu ra một định nghĩa cụ thể về giao lưu văn hóa nhưng các nhà nghiên cứu lại đồng tình với định nghĩa của các nhà khoa học Mỹ phát biểu năm 1963 (đã dẫn) nghĩa là coi giao lưu văn hóa là quá trình các nền văn hóa tiếp xúc lâu dài và trực tiếp đồng thời gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa của nhau. Cuốn sách nhấn mạnh: “giao lưu văn hóa vừa là kết quả của trao đổi, vừa là chính bản thân sự trao đổi. Có hiểu như vậy mới thấy hết tầm quan trọng của giao lưu văn hóa trong lịch sử nhân loại, vì sản xuất, trao đổi là động lực của sự phát triển của lịch sử.

Ngoài ra, khi bàn đến giao lưu và tiếp biến văn hóa, cuốn sách cũng khẳng định: “Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình này luôn đặt mỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh” [113, tr. 12 Tác giả Phạm Đức Dương trong bài viết Giao lưu văn hóa Việt Nam và thế giới, đã có sự phân biệt giao lưu và tiếp xúc văn hóa: “Khác với giao lưu văn hóa - sự gặp gỡ giữa các yếu tố văn hóa và làm phong phú thêm cho mỗi nền văn hóa, còn tiếp xúc văn hóa diễn ra trong một thời gian dài giữa hai mô hình văn hóa và kết quả là sự biến đổi mô hình văn hóa đi vay mượn” [160]. Theo tác giả Nguyễn Thế Cường, giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển.

Do đó giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa [159]. Tình hình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc 1. Các nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốctrước năm 2008 Do hoàn cảnh lịch sử, địa lý đặc biệt, mối quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành từ xa xưa, và được kế tục, trải qua nhiều biến thiên, thăng trầm suốt từ thời cổ đại đến ngày nay. Mối quan hệ Việt -Trung là mối quan hệ đa chiều, toàn diện và phức tạp, nên đã trở thành khách thể nghiên cứu của các nhà khoa học từ nhiều chuyên ngành với nhiều chiều cạnh khác nhau, cụ thể như: kinh tế, chính trị, văn hóa, văn học, lịch sử, quân sự.

- Các nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc trong thời kỳ cổ trung đại đến 1986 Đây là thời kỳ lịch sử thu hút nhiều nhà nghiên cứu cả ở Việt Nam và Trung Quốc. Phần lớn các học giả đều thừa nhận có một quá trình tiếp xúc văn hóa Việt - Hán từ thời cổ đại, trung đại. Tiêu biểu như tác giả Phạm Hồng Quý, Lưu Chí Cường, Trần Quốc Vượng, Đặng Đức Siêu, Phạm Đức Dương, Châu Thị Hải, Lý Tùng Hiếu. Nếu nói đến những công trình chuyên khảo về quan hệ giao lưu giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc ở Trung Quốc, không thể không kể đến những công 13 trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Phạm Hồng Quý (范红贵) [136].

Trong nhiều thập kỷ qua, ông đã công bố nhiều công trình có giá trị lớn viết về dân tộc, văn hóa, lịch sử… của Việt Nam. Những nghiên cứu của Phạm Hồng Quý được giới khoa học đánh giá cao và có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều thế hệ học trò và các học giả sau này, đặc biệt là cũng nhận được sư ̣quan tâm của cả lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc. Chẳng hạn như cuốn“Dân tộc cùng một gốc rễ” (同根生的民族) [148] được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu nhất, gây ảnh hưởng sâu rộng ở trong và ngoài nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc từ 2008 đến nay là một tài liệu phân tích sâu sắc về quá trình tương tác và trao đổi văn hóa giữa hai quốc gia láng giềng trong hơn một thập kỷ qua. Tài liệu này không chỉ làm nổi bật các sự kiện văn hóa tiêu biểu mà còn khám phá những tác động tích cực của giao lưu văn hóa đến mối quan hệ song phương. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách hai nền văn hóa đan xen, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong đời sống xã hội. Để mở rộng kiến thức về văn hóa Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ đặc điểm lời chúc của người Việt, một nghiên cứu chuyên sâu về phong tục và ngôn ngữ trong văn hóa giao tiếp của người Việt.