Chương 1 , tác giả đã phân tích bối cảnh chính trị của mối quan hệ Nhật – Việt đưa đến sự hình thành quan hệ mậu dịch giữa hai nước , - Chương 2 tác giả tập trung trình bày , phân tích quan hệ mậu dịch của giữa hai nước trước và sau thời kỳ “ mậu dịch Châu Ấn Thuyền ” dưới góc độ các văn thư trao đổi của chính quyền họ Nguyễn ở Quảng Nam với Mạc Phủ và chính quyền họ Trịnh ở Đàng Ngoài ( Tonkin ) với Mạc Phủ. - Chương 3 và 4 tác giả đi sâu phân tích , trình bày sự thay đổi trong quan hệ Nhật – Việt từ sau chính sách “ Tỏa quốc ” của Mạc phủ. Ngoài ra, để nghiên cứu vấn đề, chúng tôi cũng đã dựa vào những tư liệu, báo cáo ghi chép của người Nhật Bản khi tham gia giao thương ở Đại Việt thông qua những nghiên cứu của GS. Hơn nữa, trong khả năng tiếp cận với các nguồn tài liệu tiếng Nhật chúng tôi cố gắng tổng hợp, phân tích và mô tả lại những quá trình hoạt động giao lưu của Việt Nam – Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền.
Các tài liệu nghiên cứu trên mặc dù rất chi tiết, phong phú và đa dạng nhưng với góc độ của ngành Việt Nam học, vẫn chưa có người khai thác và nghiên cứu vị trí và góc nhìn khu vực của Việt Nam trong giao thương quốc tế những năm đầu thế kỷ XVII, ngay cả việc tiếp cận những tài liệu tiếng Nhật để hiểu rõ và phục dựng bức tranh hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa của Nhật Bản với Đại Việt cũng còn khá ít ỏi nên chúng tôi mạnh dạn chọn chủ đề: “ Việt Nam giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản thời Châu ấn thuyền” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình với hướng tiếp cận khu vực học và các nguồn tài liệu tiếng Nhật. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã có từ rất sớm. Như đã nêu trên, kể từ những kỳ hội thảo quốc tế về Hội An từ những năm 1990, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và bài viết về mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản. Tuy nhiên, với góc độ khu vực học và lĩnh vực nghiên cứu của ngành Việt Nam học, vẫn chưa có người viết về mối quan hệ trên trong thời kỳ Châu ấn thuyền bằng tiêu điểm là Việt Nam.
Việc nghiên cứu lịch sử giao lưu hai nước để thấy thêm những truyền thống tốt đẹp trong quan hệ hai nước và rút ra những bài học kinh nghiệm trong mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đương thời là việc làm hết sức cần thiết. Đặc biệt, thông qua những tài liệu nghiên cứu bằng tiếng Nhật của các nhà nghiên cứu Nhật Bản, với đối tượng nghiên cứu chủ thể là Việt Nam, chúng tôi muốn làm rõ thêm tình hình Việt Nam thế kỷ XVII trong mối giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản. Và hơn nữa, luận văn này hoàn thành có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đề tài với những đóng góp khoa học cụ thể sau đây : - Làm rõ cơ sở nghiên cứu và bối cảnh lịch sử của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thời Châu ấn thuyền - Thông qua những tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Nhật của các công trình nghiên cứu, chúng tôi phục dựng lại một cách khách quan, toàn diện, quá trình và kết quả của giao lưu kinh tế, văn hóa thời Châu ấn thuyền về các lĩnh vực, giao thương cũng như giao lưu văn hóa của hai nước. Bố cục của luận văn Chương 1 : Bối cảnh lịch sử Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVI-XVII Trong chương này, chúng tôi trình bày bối cảnh lịch sử của hai nước Việt Nam - Nhật Bản trong thời kỳ Châu ấn thuyền.
Đây là giai đoạn lịch sử với nhiều biến chuyển hết sức đa dạng và phức tạp. Thời kỳ này, Việt Nam và Nhật Bản đều có những nét tương đồng trong bối cảnh lịch sử, cùng là lần đầu tiên mở rộng mối bang giao thương mại với nhau, cùng là thời kỳ mà chính 16 quyền trung ương vừa cố gắng duy trì trật tự xã hội sau những biến cố chính trị lớn lao, vừa xây dựng cơ sở kinh tế nông nghiệp trong nước, vừa dung dưỡng cho những nhân tố phát triển thương mại với các trung tâm thương mại trong và ngoài nước. Chúng tôi nghiên cứu lịch sử của Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, giai đoạn này Việt Nam ( tức nước Đại Việt lúc bấy giờ) đang trong thời kỳ phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài khá gay gắt. Cả hai chính quyền đều mang danh nghĩa phò vua Lê nhưng đã chiếm cứ mỗi vùng lãnh thổ khác nhau ra sức giao thương quốc tế, củng cố vị trí trên thị trường quốc tế và nâng cao vai trò thương cảng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giở.
Song song đó bối cảnh lịch sử nhật bản thế kỷ XVI – XVII cũng có nhiều biến cố quan trọng. Sau trận đánh Sekigahara, Nhật Bản thiết lập một trận tự mới với chính quyền Mạc Phủ Tokugawa điều hành và thống nhất đất nước. Đây là thời kỳ có nhiều luật lệ, nhiều biến động nhưng lại là thời kỳ bình yên nhất trong lịch sử Nhật Bản. Chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã đẩy mạnh giao thương hàng hải với các nước trên thế giới và tìm kiếm thị trường mới ở Đông Nam Á, nhờ đó thời kỳ Châu ấnn thuyền đã bước vào một giai đoạn đỉnh cao với chế độ cấp ấn trạng và các loại giấy thông hành cho những con thuyền thương mại quốc tế, làm nên một thời kỳ hoàng kim trong giao thương quốc tế của Nhật Bản với các nước trên thế giới và đặc biệt là đối với Việt Nam.
Chương 2 : Việt Nam trong giao lưu kinh tế với Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền Ở chương này, với góc nhìn của Việt Nam trong bối cảnh lịch sử phân tranh Nam - Bắc, lần đầu tiên Việt Nam vươn mình ra thế giới, phát triển kinh tế hàng hải, xuất nhập khẩu và giao thương với người Nhật Bản, tạo tiền đề cho những chính sách kiến quốc và phát triển của Việt Nam cho mãi tận sau này. Chúng tôi đặt công trình nghiên cứu theo các mốc lịch sử cụ thể để có cái nhìn khách 17 quan và chính xác hơn khi phân tích các sự kiện thương mại và giao thương kinh tế của Việt Nam với Nhật Bản. Qua đó, chứng minh được sự chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam trên mọi phương diện. Đàng Trong và Đàng Ngoài đều có những thế mạnh khác nhau, và những chính sách bang giao khôn khéo cởi mở, đã tạo điều kiện phát triển Việt Nam thời kỳ Châu ấn với những biến chuyển kinh tế hàng hóa hết sức phong phú và linh hoạt.
Chính vì thế, chúng tôi đưa ra nghiên cứu về các cảng giao thương với nhật bản thời kỳ Châu ấn thuyền bao gồm cả những thương cảng ở Đàng Ngoài và những thương cảng Đàng Trong. Thông qua đó, chúng tôi phục dựng khách quan quá trình và kết quả của giao lưu kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản thời Châu ấn thuyền trong các lĩnh vực hoạt động giao thương bao gồm: những mặt hàng xuất khẩu được ưa chuộng, những chính sách thuế, các loại tiền dùng để giao thương ở Đàng Trong và Đàng Ngoài và những hoạt động mậu dịch giữa hai nước Việt - Nhật thời kỳ Châu ấn thuyền. Đặc biệt, sự hình thành phố Nhật ở Hội An như một minh chứng cho sự phát triển, trường tồn của một cộng đồng cư dân Nhật Bản trển đất Đại Việt và những năm nửa đầu thế kỷ XVII. Chương 3 : Việt Nam trong giao lưu văn hóa với Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền Ở chương này, chúng tôi khảo cứu Việt Nam trong giao lưu văn hóa với Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền.
Do việc di chuyển hàng hải quá xa xôi về mặt địa lý, một số doanh nhân Nhật được cơ quan chính quyền sở tại hỗ trợ cho việc lưu trú tại Việt Nam, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để sinh hoạt và phát triển, nên việc hình thành phố Nhật tại Hội An là một minh chứng cho việc giao thoa văn hóa Việt Nhật thời kỳ Châu ấn thuyền. Song song với việc thực thi những chính sách hà khắc, ràng buộc với các luật lệ của hai chính quyền Việt Nam - Nhật Bản ở sở tại, những giá trị văn hóa truyền thống mang tính bản địa được giao thoa với những văn hóa Nhật Bản trên đất Việt, tạo nên một xung lực cho quá trình hình thành và phát triển ý thức tâm lý dân tộc, ngôn ngữ và 18 những trường hợp kết hôn giữa người Việt va người Nhật ở Hội An và qua đó đánh giá khái quát việc ảnh hưởng văn hóa và giao thoa tư tưởng văn hóa trong bối cảnh chuyển biến lịch sử thời kỳ này. 19 CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM - NHẬT BẢN THẾ KỶ XVI - XVII 1.1 NƯỚC VIỆT NAM THẾ KỶ THỨ XVI – XVII Thế kỷ XVI-XVII, nước Việt Nam đã trở thành một thị trường quan trọng của Nhật Bản. Đây là giai đoạn sơ khai trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lịch sử.
Hai quốc gia đã quan hệ mua bán với nhau một cách hữu hảo và đôi bên đều có lợi. Người Nhật đã mở phố Nhật để thuận tiện mua bán, sinh hoạt tại Phố Hiến (Hưng Yên) nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng, tại Phục Lễ huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), tại Hội An (Quảng Nam). Ở đây, họ lưu ngụ với tư cách ngoại kiều để kinh doanh, phát triển thương nghiệp. Thời kỳ này, tuy tình hình đất nước mất ổn định, rối ren, chính quyền phong kiến trung ương suy yếu, mâu thuẫn xã hội phát triển sâu sắc dẫn đến những cuộc chiến tranh liên miên và sự khởi nghĩa của nhân dân khắp nơi.
Thêm nữa, những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các phe phái, các tập đoàn phong kiến đã để lại những hậu quả nghiêm trọng: nhân dân đói khổ, đất nước bị chia cắt kéo dài đến cuối thế kỉ XVIII, gây ra bao đau thương cho dân tộc và tổn hại cho sự phát triển của đất nước. Nhưng do nước ta có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông đi lại, nhất là bằng đường biển, tạo điều kiện thu hút thương nhân các nước.