Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) là hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả đối với các bên tham gia cũng như nền kinh tế. So với phương thức cho vay truyền thống của các ngân hàng thương mại, CTTC mang những ưu điểm như: quyền chủ động lựa chọn thiết bị của bên thuê, hạn chế rủi ro cho bên cho thuê do nắm quyền sở hữu tài sản, tiết kiệm chi phí, thủ tục không đòi hỏi tài sản thế chấp và hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa dây chuyền sản xuất.
Tại Việt Nam, sau gần 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị của các doanh nghiệp sản xuất – đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ – trở nên cấp bách. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn về năng lực tài chính, thiếu tài sản bảo đảm và uy tín tín dụng để tiếp cận vốn vay ngân hàng truyền thống, khiến CTTC trở thành giải pháp tài trợ vốn trung và dài hạn thích hợp.
Ngành CTTC tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1994 và chính thức được định hình pháp lý từ ngày 09/10/1995 theo Nghị định số 64/CP của Chính phủ về Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC. Đến thời điểm 30/12/2015, toàn hệ thống có 11 công ty CTTC được cấp phép, gồm:
- 07 công ty trực thuộc các Ngân hàng Thương mại (NHTM) Nhà nước và NHTM cổ phần;
- 03 công ty có vốn đầu tư nước ngoài;
- 01 công ty TNHH Một thành viên thuộc khối doanh nghiệp nhà nước (Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy).
Dù đã khẳng định được vai trò nhất định, hoạt động của các công ty CTTC tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu có xu hướng thu hẹp do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, thiếu vốn hoạt động, áp lực tái cấu trúc và hệ thống cơ chế chính sách chưa đồng bộ. Kế toán hoạt động CTTC giữ vai trò công cụ quản lý kinh tế và cung cấp thông tin tài chính phản ánh số dư nợ phải thu, lãi dự thu và chất lượng tài sản cho các nhà quản trị, cơ quan quản lý cũng như các bên liên quan. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn mực và chế độ kế toán hướng dẫn cho các công ty CTTC tại Việt Nam còn thiếu tính đồng bộ, chưa theo kịp các chuẩn mực quốc tế và thực tiễn phát sinh các giao dịch CTTC đa dạng, phức tạp. Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có luận án tiến sĩ hay công trình nghiên cứu cấp bộ/ngành nào giải quyết một cách toàn diện và hệ thống các vấn đề kế toán hoạt động CTTC từ góc độ bên cho thuê tại Việt Nam. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là hoàn thiện kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu chung, luận án xác định 03 mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động CTTC và kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC.
- Nghiên cứu môi trường pháp lý của kế toán hoạt động CTTC tại Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam; chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu quản lý và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra 04 câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết:
- Hoạt động CTTC trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế diễn ra như thế nào?
- Những nguyên tắc và phương pháp kế toán nào nhằm cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động CTTC trong các doanh nghiệp CTTC?
- Thực trạng hoạt động CTTC và kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Đã đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế đối với hoạt động CTTC trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế chưa?
- Cần phải có những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC ở Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính (đứng trên góc độ bên cho thuê).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các giao dịch phát sinh trong hoạt động CTTC gắn liền với hợp đồng CTTC qua 04 giai đoạn: giai đoạn khởi đầu, giai đoạn bắt đầu thời hạn hợp đồng, giai đoạn thực hiện hợp đồng, và giai đoạn kết thúc hợp đồng CTTC; nghiên cứu dưới góc độ kế toán tài chính (không đi sâu vào kế toán quản trị).
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 07 công ty CTTC trực thuộc các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam. Luận án không nghiên cứu các công ty CTTC độc lập, các công ty CTTC trực thuộc doanh nghiệp phi tài chính và các tổ chức CTTC nước ngoài tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và khảo sát thực tế hoạt động kế toán CTTC trong giai đoạn từ năm 2008 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2017), dựa trên hệ thống văn bản pháp lý từ năm 1995 đến năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả đã điểm cứu các công trình học thuật và bài báo quốc tế về kế toán thuê tài sản:
- Dennis W. (với bài báo "The Conceptual Framework and Accounting for Leases"): Phân tích sự phức tạp và bất cập của các chuẩn mực kế toán thuê tài sản trong việc trình bày nghĩa vụ nợ của bên đi thuê trên Bảng cân đối kế toán. Tác giả xây dựng mô hình quyết định đối với 02 cách giải thích khái niệm tài sản và nợ phải trả, đánh giá ảnh hưởng của các mô hình này lên Báo cáo tài chính (BCTC) của bên đi thuê. Điểm hạn chế là nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bên thuê thiết bị mà chưa xem xét kế toán phía bên cho thuê.
- Robert C. Lipe (đăng tải trên tạp chí Accounting Horizons, với bài báo "Commentary: Lease accounting research and the G4+1 Proposal"): Đánh giá các đề xuất của nhóm G4+1 về việc phân loại hợp đồng thuê và ghi nhận tách biệt giữa giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê với giá trị còn lại của tài sản cho thuê. Tác giả nhấn mạnh sự thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm phía bên cho thuê và chỉ ra cách thức ghi nhận thu nhập lãi theo tỷ lệ cố định của bên cho thuê.
- Power và Revsine (1989): Nghiên cứu mô phỏng số liệu từ công ty Comdisco (cho thuê phần cứng máy tính), chứng minh rằng khi tỷ lệ giá trị còn lại thực tế so với giá trị ghi sổ thấp hơn 5% so với kỳ vọng, thu nhập của hợp đồng cho thuê năm trước đó bị sụt giảm xuống còn 114%.
- John và cộng sự (1993): Phân tích dữ liệu khảo sát hoạt động công nghiệp từ Hiệp hội cho thuê thiết bị, chỉ ra rằng bên cho thuê có xu hướng nâng giá trị còn lại dự kiến nhằm giảm chi phí cho thuê sau khi Đạo luật Cải tổ Thuế năm 1986 của Hoa Kỳ có hiệu lực.
- Wenqi Ma (2011, nghiên cứu "Impact on Financial statements of new accounting model for leases"): So sánh mô hình kế toán thuê tài sản truyền thống với mô hình mới. Tác giả phân tích 02 phương pháp tiếp cận kế toán bên cho thuê: phương pháp tiếp cận nghĩa vụ thực hiện (performance obligation approach) và phương pháp tiếp cận chấm dứt ghi nhận (derecognition approach), làm rõ việc ghi nhận khoản phải thu và giá trị còn lại không được bảo đảm.
- Éva Gulyás (2014, luận án tiến sĩ "Problems of handling accounting for financial leasing within the framework of domestic and international regulations"): Phân tích quá trình hội tụ giữa chuẩn mực quốc tế (IASB) và chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ (FASB), khảo sát thực tiễn Luật Kế toán Hungary, đánh giá tác động của IFRS mới đến hệ thống kế toán và thuế đối với hợp đồng thuê tài chính nội địa.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu công bố dưới dạng bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành:
- Hà Cúc (1998, Tạp chí Ngân hàng số 16): Bài viết "Một số suy nghĩ về hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng", phân tích hệ thống tài khoản doanh nghiệp theo Quyết định 1141/TC-QĐ-CĐKT (1995) và hệ thống tài khoản tổ chức tín dụng theo Quyết định 41/QĐ-NH2 (1993), chỉ ra tính chất hỗn hợp (vừa tài chính vừa quản trị) và đề xuất cải tiến hệ thống tài khoản ngân hàng.
- Ngô Văn Thịnh (2001, Tạp chí Kế toán số 30): Bài viết "Chuẩn mực kế toán thuê tài sản: Liệu có phù hợp với thực tiễn Việt Nam?", phân tích Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 trước khi Việt Nam ban hành VAS 06. Tác giả đề xuất định lượng hóa các tiêu chí phân loại CTTC (như thời hạn thuê tối thiểu đạt 60% thời gian sử dụng kinh tế theo Nghị định 64/CP, hoặc 75% tuổi thọ kinh tế và giá trị hiện tại dòng tiền thuê tối thiểu đạt 90% giá trị thị trường theo thông lệ Hoa Kỳ).
- Nguyễn Công Phương (2004, Tạp chí Tài chính số 11): Bài viết "Bàn về chuẩn mực kế toán thuê tài sản", phân tích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 (VAS 06 - ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ-BTC), nêu rõ khó khăn khi chuẩn mực chỉ quy định định tính về thời hạn thuê và thiếu phương pháp tính toán cụ thể về giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu, chi phí tài chính và nợ gốc từng kỳ.
- Ngô Thị Thu Hương và Trần Quỳnh Hương (2012, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán số 2): Bài viết "Kế toán hợp đồng thuê tài sản – Đôi điều bàn luận", so sánh IAS 17 và FAS 13 qua 04 tình huống hợp đồng thuê và điểm lại các nội dung dự thảo hội tụ kế toán thuê tài sản năm 2010.
- Nguyễn Hữu Ánh (2013, Tạp chí Kinh tế & Phát triển số 188): Bài viết "Nghiên cứu kế toán thuê tài sản theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)", chỉ ra điểm khác biệt giữa VAS 06 và IAS 17 trong trường hợp bên cho thuê là nhà sản xuất hoặc nhà thương mại.
- Nguyễn Trung Lập (2007, Tạp chí Kế toán số 6): Bài viết "Mua nợ phải thu và phương pháp hạch toán", tiếp cận từ góc độ bên mua nợ mà chưa phân tích phía công ty CTTC bán nợ.
- Nhóm nghiên cứu về bên đi thuê: Phạm Thị Bích Chi (2001), Hà Thị Tường Vy và Nguyễn Thu Hà (2004), Nguyễn Thị Hòa (2004), Nguyễn Thị Lời (2004) đều tập trung xử lý kế toán tài sản cố định thuê tài chính hoặc thuê hoạt động tại các đơn vị đi thuê.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trong và ngoài nước tập trung vào góc độ bên đi thuê, hoặc dừng lại ở việc so sánh văn bản chuẩn mực giữa VAS 06 và IAS 17. Luận án lựa chọn giải quyết các khoảng trống:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nguyên tắc, phương pháp đo lường, ghi nhận và trình bày các yếu tố tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí của hoạt động CTTC tại đơn vị cho thuê theo 04 giai đoạn hợp đồng.
- Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán tại 07 công ty CTTC trực thuộc NHTM Việt Nam, đặc biệt là các nghiệp vụ phức tạp như CTTC giáp lưng, CTTC bắc cầu, CTTC hợp vốn, và bán nợ phải thu từ hợp đồng CTTC.
- Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện phương pháp tính lãi dự thu, suy giảm giá trị tài sản CTTC và hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các công ty CTTC ở Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm và bản chất cho thuê tài chính: Luận án sử dụng định nghĩa theo Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS 17) và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS 06). Cho thuê tài chính (Financial Lease hay Capital Lease) là giao dịch thuê tài sản mà bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích kinh tế gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản cuối thời hạn thuê có thể được chuyển giao hoặc không.
- Khung phân tích quy trình kế toán 04 giai đoạn:
- Giai đoạn khởi đầu: Ký kết hợp đồng, mua sắm tài sản, phát sinh các chi phí trực tiếp ban đầu.
- Giai đoạn bắt đầu thời hạn hợp đồng: Bàn giao tài sản, ghi nhận khoản đầu tư thuần/nợ phải thu CTTC và ghi giảm tài sản mua sắm.
- Giai đoạn thực hiện hợp đồng: Thu tiền thuê định kỳ (gồm nợ gốc và doanh thu lãi CTTC), phân bổ chi phí, theo dõi lãi dự thu và xử lý nợ quá hạn.
- Giai đoạn kết thúc hợp đồng: Xử lý chuyển nhượng quyền sở hữu, bên thuê mua lại tài sản, gia hạn hợp đồng, hoặc thu hồi tài sản cho thuê.
- Khung so sánh nghiệp vụ kế toán:
- So sánh CTTC với cho thuê hoạt động (Operating lease);
- So sánh CTTC với tín dụng ngân hàng truyền thống;
- So sánh CTTC với phương thức bán hàng trả góp;
- So sánh Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 và Nguyên tắc kế toán chung của Vương quốc Anh (UK GAAP) / Hoa Kỳ (US GAAP).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng mô tả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
| Tiêu chí | Nội dung chi tiết |
|---|---|
| Phương pháp luận | Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (phân tích hiện tượng trong sự vận động, mối liên hệ đa chiều và bối cảnh lịch sử phát triển). |
| Phương pháp định tính | - Phương pháp quan sát trực tiếp: Quy trình luân chuyển chứng từ, cách thức tổ chức bộ máy kế toán, hệ thống sổ sách tại các công ty CTTC. - Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp: Đánh giá văn bản pháp luật, chuẩn mực kế toán VAS/IAS, so sánh đối chiếu quy định. |
| Phương pháp định lượng/khảo sát | - Khảo sát bằng phiếu câu hỏi điều tra và phỏng vấn chuyên sâu (trực tiếp, thư điện tử, điện thoại). - Phân tổ thống kê, tính toán số tuyệt đối và số tương đối. |
| Công cụ xử lý dữ liệu | Phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp bảng biểu, thống kê mô tả kết quả khảo sát. |
Dữ liệu và mẫu khảo sát
- Nguồn dữ liệu thứ cấp:
- Các văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2017;
- Hệ thống chứng từ, sổ sách, Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên của các công ty CTTC;
- Báo cáo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam;
- Giáo trình Kế toán Ngân hàng, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại của các trường đại học khối kinh tế, các luận án tiến sĩ và bài báo khoa học chuyên ngành.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp và mẫu nghiên cứu:
- Phạm vi mẫu: 07 công ty CTTC trực thuộc các Ngân hàng Thương mại Việt Nam.
- Số lượng phiếu phát ra và thu về: Phát ra 21 phiếu điều tra, thu về 21 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%).
- Cơ cấu đối tượng khảo sát: Thiết kế 02 mẫu phiếu khảo sát riêng biệt:
- Mẫu phiếu 1b (Phụ lục 1b): Dành cho nhà quản lý (Ban lãnh đạo, Trưởng/Phó phòng Tài chính kế toán, Phòng Quan hệ khách hàng, Phòng Kinh doanh);
- Mẫu phiếu 1a (Phụ lục 1a): Dành cho nhân viên kế toán và cán bộ nghiệp vụ trực tiếp.
- Kết quả khảo sát được tổng hợp chi tiết tại Phụ lục 13 làm căn cứ đánh giá thực trạng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về nghiệp vụ và kế toán CTTC:
- Lịch sử hình thành và phát triển của CTTC:
- Giao dịch thuê tài sản xuất hiện từ khoảng năm 2000 trước Công nguyên tại thành phố Sumerians (phía Nam Mesopotamia cổ đại, gần vịnh Batra, thuộc Iraq ngày nay), do các thầy tu cho nông dân tự do thuê nông cụ.
- Hoạt động cho thuê đất nông nghiệp xuất hiện tại nền văn minh Babylonia khoảng 1800 năm trước Công nguyên.
- Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ XIX, cho thuê tài sản mới chuyển biến thành ngành kinh doanh thực sự. Công ty cho thuê chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới là Công ty Cho thuê Hoa Kỳ (United States Leasing Corporation) thành lập tháng 5/1952 tại Hoa Kỳ.
- Năm 1960, hợp đồng CTTC đầu tiên được ký tại Anh trị giá 180.000 bảng.
- Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia đi đầu với việc thành lập Công ty Cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation) năm 1963. Tổng giá trị hợp đồng cho thuê của 31 công ty lớn nhất Nhật Bản tăng từ 726 triệu USD năm 1970 lên 7.500 triệu USD năm 1981 (tăng hơn 10 lần). Hoạt động này lan sang Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia vào thập niên 70 và phát triển rộng khắp châu Á vào đầu thập niên 80.
- Bản chất và đặc trưng của hoạt động CTTC: Làm rõ tiêu chí phân định giao dịch CTTC với cho thuê hoạt động, tín dụng trung dài hạn của NHTM và bán hàng trả góp qua hệ thống bảng so sánh (Bảng 1.1, 1.2, 1.3). Phân tích quy trình vận hành và các loại rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tài sản).
- Kế toán hoạt động CTTC theo tiến trình 04 giai đoạn: Xác định nguyên tắc ghi nhận giá trị đầu tư thuần, doanh thu tài chính, chi phí trực tiếp ban đầu và hạch toán tài sản thu hồi qua các giai đoạn: khởi đầu, bắt đầu thời hạn, thực hiện và kết thúc hợp đồng.
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích quy định kế toán CTTC theo chuẩn mực quốc tế IAS 17, chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ (US GAAP), Vương quốc Anh (UK GAAP) và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về: (1) Tiêu chuẩn định lượng trong phân loại hợp đồng; (2) Phương pháp phân bổ doanh thu lãi và chi phí; (3) Xử lý suy giảm giá trị và trích lập dự phòng rủi ro tài sản cho thuê.
Chương 2: Thực trạng kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn tại Việt Nam:
- Tổng quan các công ty CTTC: Điểm lại quá trình hình thành từ Nghị định 64/CP (1995). Tính đến 30/12/2015, có 11 công ty CTTC hoạt động tại Việt Nam. Hoạt động tập trung vào 07 công ty trực thuộc NHTM (như Công ty CTTC Ngân hàng Nông nghiệp - ALC, BIDV Leasing,...).
- Khung pháp lý áp dụng: Kế toán CTTC tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh đồng thời của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 (VAS 06 - Quyết định 165/2002/QĐ-BTC) và Hệ thống tài khoản kế toán các Tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành (Quyết định 41/QĐ-NH2 và các văn bản sửa đổi bổ sung).
- Thực trạng hạch toán theo 04 giai đoạn tại 07 công ty CTTC khảo sát:
- Giai đoạn khởi đầu: Việc tập hợp chi phí mua sắm tài sản, chi phí thẩm định và chi phí vận chuyển chưa có sự thống nhất giữa các đơn vị;
- Giai đoạn bắt đầu thời hạn: Hạch toán chuyển tài sản mua sắm sang khoản phải thu CTTC (Tài khoản loại 3 - Cho thuê tài chính theo chế độ kế toán TCTD);
- Giai đoạn thực hiện hợp đồng: Ghi nhận doanh thu lãi CTTC định kỳ, việc theo dõi và trích lập lãi dự thu (Tài khoản 394 - Lãi phải thu từ CTTC) còn nhiều bất cập, đặc biệt khi khách hàng phát sinh nợ quá hạn;
- Giai đoạn kết thúc hợp đồng: Việc hạch toán chuyển nhượng tài sản với giá danh nghĩa hoặc thu hồi tài sản khi khách hàng mất khả năng thanh toán còn lúng túng.
- Đánh giá thực trạng:
- Ưu điểm: Đã hình thành được bộ máy kế toán chuyên trách, tuân thủ các quy định cơ bản của NHNN và Bộ Tài chính, đáp ứng yêu cầu lập BCTC theo quy định hiện hành.
- Hạn chế và nguyên nhân: Tiêu chí phân loại CTTC của VAS 06 còn mang nặng tính định tính; việc ghi nhận lãi dự thu đối với nợ nhóm 2 đến nhóm 5 chưa phản ánh đúng bản chất rủi ro; chưa có hướng dẫn kế toán rõ ràng đối với các nghiệp vụ phái sinh/phức tạp như CTTC hợp vốn, CTTC giáp lưng, CTTC bắc cầu và nghiệp vụ bán nợ phải thu từ hợp đồng CTTC cho các tổ chức như DATC hay VAMC; việc trích lập dự phòng suy giảm giá trị tài sản cho thuê chưa bám sát chuẩn mực quốc tế.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán hoạt động cho thuê tài chính trong các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp đến năm 2020:
- Định hướng phát triển: Đẩy mạnh hoạt động CTTC trong xu thế hội nhập kinh tế, tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng, nâng cao năng lực tài chính và chất lượng thông tin kế toán.
- Hệ thống 04 nhóm giải pháp cụ thể:
- Giải pháp về phương pháp xác định giá trị CTTC và tính, hạch toán lãi dự thu: Đề xuất công thức và phương pháp chiết khấu dòng tiền xác định giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu; quy định cụ thể điều kiện dừng dự thu lãi và thoái thu lãi khi hợp đồng chuyển sang nhóm nợ xấu nhằm tránh phản ánh doanh thu ảo.
- Giải pháp về ghi nhận suy giảm giá trị tài sản CTTC: Xây dựng quy trình đánh giá tổn thất tài sản và hạch toán trích lập dự phòng tổn thất tài sản CTTC tương ứng với giá trị hợp lý của tài sản thu hồi.
- Giải pháp về đo lường và ghi nhận các chỉ tiêu trong kế toán hoạt động CTTC: Hoàn thiện việc đo lường các khoản nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn từ CTTC, phân bổ chi phí trực tiếp ban đầu phù hợp với thời hạn hợp đồng.
- Giải pháp về phương pháp kế toán các nghiệp vụ đặc thù: Bổ sung tài khoản và quy trình hạch toán chi tiết cho 04 nghiệp vụ CTTC phức tạp phát sinh trong thực tế: CTTC giáp lưng, CTTC bắc cầu, CTTC hợp vốn và bán nợ phải thu từ hợp đồng CTTC.
- Điều kiện thực hiện giải pháp: Phân định rõ trách nhiệm và kiến nghị cụ thể đối với: (1) Bộ Tài chính (sửa đổi, bổ sung VAS 06 và lộ trình áp dụng IFRS); (2) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (hoàn thiện chế độ kế toán TCTD, quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng); (3) Hiệp hội CTTC và bản thân các công ty CTTC (nâng cao trình độ cán bộ kế toán, nâng cấp phần mềm kế toán chuyên dụng).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Hệ thống hóa và hoàn thiện khung lý thuyết về kế toán hoạt động CTTC tại đơn vị cho thuê, làm rõ các khái niệm, bản chất kinh tế và quy trình kế toán 04 giai đoạn của hợp đồng CTTC.
- Tổng hợp, đối chiếu các mô hình kế toán CTTC quốc tế (IAS 17, US GAAP, UK GAAP, dự thảo hội tụ IFRS) và chỉ ra các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam về tiêu chuẩn định lượng phân loại hợp đồng và nguyên tắc đo lường giá trị tài sản.
Đóng góp mới về thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu khảo sát thực tế (21 phiếu điều tra sâu) về thực trạng tổ chức công tác kế toán CTTC tại 07 công ty CTTC trực thuộc các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008–2015/2017.
- Nhận diện các điểm nghẽn thực tế trong hạch toán kế toán hoạt động CTTC tại Việt Nam: sự thiếu đồng bộ giữa chuẩn mực kế toán doanh nghiệp (VAS 06) và chế độ kế toán các TCTD (NHNN), sự bất cập trong hạch toán lãi dự thu và xử lý nợ quá hạn.
- Đề xuất quy trình hạch toán và phương pháp định khoản chi tiết cho các nghiệp vụ mới và phức tạp mà chế độ kế toán hiện hành chưa có hướng dẫn: CTTC giáp lưng, CTTC bắc cầu, CTTC hợp vốn, và bán nợ phải thu từ hợp đồng CTTC cho Công ty Mua bán nợ (DATC, VAMC).
Bảng tổng hợp các kiến nghị, giải pháp đề xuất
| Nhóm giải pháp / Kiến nghị | Nội dung đề xuất cụ thể trong luận án | Cấp thực hiện |
|---|---|---|
| Xác định giá trị & Hạch toán lãi dự thu | - Định lượng hóa tỷ lệ thời gian thuê (≥ 75%) và giá trị hiện tại dòng tiền thuê (≥ 90% giá trị hợp lý). - Dừng dự thu và thoái thu ngay đối với nợ nhóm 2 trở đi; chỉ hạch toán thu nhập lãi khi thực thu. |
Bộ Tài chính, NHNN, Công ty CTTC |
| Suy giảm giá trị tài sản | - Ghi nhận tổn thất suy giảm giá trị tài sản cho thuê dựa trên so sánh giá trị ghi sổ và giá trị có thể thu hồi. - Trích lập dự phòng rủi ro cho từng danh mục tài sản CTTC. |
Bộ Tài chính, NHNN |
| Nghiệp vụ CTTC đặc thù | - Thiết lập tài khoản và sơ đồ hạch toán cho CTTC giáp lưng và CTTC bắc cầu. - Quy định phương thức phân chia nợ phải thu và doanh thu trong CTTC hợp vốn. - Chuẩn hóa hạch toán bán nợ phải thu CTTC có truy đòi và không truy đòi. |
Ngân hàng Nhà nước, Công ty CTTC |
| Môi trường pháp lý & Hạ tầng | - Cập nhật VAS 06 theo hướng tiếp cận chuẩn mực IFRS mới. - Sửa đổi, bổ sung Hệ thống tài khoản kế toán các TCTD. - Nâng cấp phần mềm kế toán và chuẩn hóa quy trình kiểm soát nội bộ. |
Bộ Tài chính, NHNN, Hiệp hội CTTC |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu tại 07 công ty CTTC trực thuộc các Ngân hàng Thương mại Việt Nam, chưa mở rộng khảo sát đối với 04 công ty CTTC độc lập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoặc công ty thuộc tập đoàn phi tài chính.
- Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu dưới góc độ kế toán tài chính phục vụ lập và trình bày BCTC, chưa đi sâu phân tích toàn diện hệ thống kế toán quản trị (như lập dự toán, kế toán chi phí và phân tích hiệu quả tài chính theo từng dòng sản phẩm CTTC).
- Quy mô mẫu khảo sát: Mẫu điều tra định lượng mô tả thực hiện trên 21 phiếu khảo sát tại 07 công ty CTTC trực thuộc NHTM, do quy mô ngành CTTC tại Việt Nam có số lượng doanh nghiệp hoạt động tương đối ít.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối với toàn bộ các loại hình công ty CTTC tại Việt Nam (bao gồm các công ty CTTC quốc tế/liên doanh và công ty độc lập).
- Đi sâu nghiên cứu thiết lập mô hình tổ chức kế toán quản trị trong các công ty CTTC nhằm hỗ trợ kiểm soát rủi ro và ra quyết định quản trị kinh doanh.
- Nghiên cứu tác động toàn diện của Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế số 16 (IFRS 16 - Leases) thay thế cho IAS 17 đến hệ thống kế toán và BCTC của các công ty CTTC tại Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi sang IFRS.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Nguồn tài liệu học thuật về nghiệp vụ và kế toán CTTC từ góc độ bên cho thuê.
- Giảng viên các trường đại học khối kinh tế: Tư liệu phục vụ giảng dạy các học phần Kế toán tài chính, Kế toán ngân hàng và Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại.
- Ban lãnh đạo và nhân viên kế toán tại các công ty CTTC và NHTM: Cẩm nang nghiệp vụ tham khảo để hoàn thiện quy trình ghi nhận chứng từ, mở sổ tài khoản chi tiết và xử lý các giao dịch phức tạp (bán nợ, hợp vốn, giáp lưng).
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam): Cơ sở thực tiễn phục vụ rà soát, sửa đổi VAS 06 và cập nhật chế độ kế toán áp dụng cho hệ thống các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Phần nội dung đáng tham khảo
- Mục 1.1 và 1.3 (Chương 1): Hệ thống hóa lý luận, lịch sử phát triển thế giới và quy trình kế toán 04 giai đoạn của hợp đồng CTTC.
- Mục 2.3 (Chương 2): Dữ liệu khảo sát thực tế và phân tích thực trạng hạch toán các nghiệp vụ CTTC tại 07 công ty CTTC Việt Nam.
- Mục 3.2 (Chương 3): Các giải pháp và quy trình định khoản kế toán đối với nghiệp vụ CTTC giáp lưng, CTTC bắc cầu, CTTC hợp vốn và bán nợ phải thu.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về kế toán hoạt động CTTC trong các công ty CTTC tại Việt Nam đứng trên góc độ bên cho thuê. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào kế toán tài chính qua 04 giai đoạn hợp đồng; phạm vi không gian là 07 công ty CTTC trực thuộc các NHTM Việt Nam; phạm vi thời gian thu thập số liệu khảo sát từ năm 2008 đến 2017 dựa trên khung pháp lý từ năm 1995.
2. Hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam chính thức ra đời từ mốc thời gian và văn bản pháp lý nào?
Mặc dù công ty thuê mua đầu tiên được hình thành vào năm 1994, hoạt động CTTC trong các công ty CTTC tại Việt Nam chỉ chính thức ra đời từ ngày 09/10/1995 theo Nghị định số 64/CP của Chính phủ ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
3. Quy trình kế toán hoạt động CTTC được luận án phân chia thành các giai đoạn nào?
Luận án phân chia quy trình kế toán hoạt động CTTC tại đơn vị cho thuê thành 04 giai đoạn kế tiếp nhau:
- Giai đoạn khởi đầu cho thuê tài chính;
- Giai đoạn bắt đầu thời hạn hợp đồng cho thuê tài chính;
- Giai đoạn thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính;
- Giai đoạn kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính.
4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập bằng phương pháp nào và quy mô mẫu ra sao?
Dữ liệu thực nghiệm sơ cấp của luận án được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn (trực tiếp, thư điện tử, điện thoại) kết hợp quan sát thực tế tại 07 công ty CTTC trực thuộc NHTM Việt Nam. Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 21 phiếu và thu về 21 phiếu hợp lệ (gồm mẫu 1b cho nhà quản lý và mẫu 1a cho nhân viên kế toán/chuyên môn). Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp phân tổ thống kê và phần mềm Microsoft Excel.
5. Luận án đề xuất giải pháp kế toán cho những nghiệp vụ CTTC phức tạp nào?
Luận án đề xuất quy trình, phương pháp đo lường và định khoản kế toán chi tiết cho 04 nghiệp vụ CTTC phức tạp phát sinh trong thực tế mà chế độ hiện hành chưa có hướng dẫn đầy đủ:
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính giáp lưng;
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính bắc cầu;
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính hợp vốn;
- Nghiệp vụ bán nợ phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính (cho DATC, VAMC).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Nguyễn Bích Hiền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về kế toán hoạt động cho thuê tài chính từ góc độ bên cho thuê. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và khảo sát thực chứng tại 07 công ty CTTC trực thuộc các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008–2017, công trình đã làm rõ những kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong hạch toán lãi dự thu, suy giảm giá trị tài sản và xử lý các nghiệp vụ phức tạp. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 04 nhóm giải pháp kỹ thuật kế toán và các kiến nghị chính sách đối với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nhằm hoàn thiện công tác kế toán hoạt động CTTC tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.