Tổng quan luận án

Luận án "Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay" do nghiên cứu sinh Đinh Xuân Thảo thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PTS. Trần Ngọc Đường và TS. Hoàng Thế Liên. Công trình được bảo vệ năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền (Mã số: 5.01.01).

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh thực tiễn đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp bách phải cải cách sâu sắc bộ máy Nhà nước, cải cách hành chính và cải cách tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Đời sống pháp luật bộc lộ mâu thuẫn gay gắt giữa tốc độ gia tăng việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật với sự hạn chế trong tổ chức thực hiện, cùng với trình độ văn hóa pháp lý và ý thức pháp luật của nhân dân lao động còn thấp kém.

Để giải quyết mâu thuẫn này, giáo dục pháp luật trong nhà trường được xác định là biện pháp cơ bản, chiến lược nhằm hình thành nhân cách người công dân, người lao động mới. Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu, mới chỉ có hệ thống trường phổ thông đưa giáo dục pháp luật vào chương trình chính khóa thống nhất toàn quốc (thông qua môn Giáo dục công dân). Ngược lại, khối các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chưa xây dựng được chương trình quốc gia về giáo dục pháp luật như một môn học chính khóa, còn lúng túng trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy và tổ chức đội ngũ giáo viên. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện công tác giáo dục pháp luật ở khối trường không chuyên luật mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích bao quát của luận án là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật trong nhà trường nói riêng; từ đó rút ra các kết luận, đề xuất nhằm tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật ở Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ khái niệm và các tính chất đặc thù của giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật.
  2. Đúc kết các kinh nghiệm và bài học thực tiễn từ công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường ở trong nước và một số quốc gia.
  3. Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong hệ thống nhà trường này.
  4. Xây dựng nội dung khung chương trình chung cho môn học giáo dục pháp luật áp dụng trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giáo dục pháp luật trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tập trung vào đối tượng người học là học sinh, sinh viên trong môi trường pháp lý tại các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Ở bậc đại học: Nghiên cứu theo các nhóm trường khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn, phân định giữa giai đoạn đào tạo đại cương và giai đoạn đào tạo chuyên ngành.
    • Ở bậc trung học chuyên nghiệp và dạy nghề: Nghiên cứu theo các nhóm trường và nhóm ngành đào tạo nghề nghiệp.
    • Không gian và thời gian: Khảo sát thực tiễn tại các cơ sở đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới (tính đến năm 1996), đảm bảo tính liên thông từ bậc học phổ thông lên đại học. Luận án không đi sâu vào việc đào tạo tại các cơ sở chuyên luật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu đã có trong văn bản

Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý liên quan đến ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật:

  • Các luận án phó tiến sĩ khoa học luật học:
    • Nguyễn Đình Lạc (1977), "Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam" (bảo vệ tại nước ngoài).
    • Trần Ngọc Đường (1988), "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" (bảo vệ tại nước ngoài).
    • Lê Quý Đĩnh (1991), "Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường phổ thông ở nước ta hiện nay" (bảo vệ trong nước).
  • Các đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước:
    • Bộ Tư pháp (1994), "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới" (Đề tài khoa học cấp Bộ).
    • Bộ Tư pháp (1995), "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người" (Đề tài khoa học cấp Bộ).
    • Đào Trí Úc (Chủ nhiệm), "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" (Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-07, Đề tài KX-07-17).
    • Đề tài KX-04-14, "Tội phạm ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" (Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994).
  • Sách chuyên khảo, tổng luận và bài báo khoa học:
    • Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức (1995), "Thực trạng phạm tội của học sinh, sinh viên trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường" (Tổng luận của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục).
    • Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995), "Bàn về giáo dục pháp luật" (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội).
    • Lê Ngọc Lan (1994), "Vấn đề giáo dục pháp luật trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề", Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 6.
    • Lê Viết Khuyến (1995), "Giáo dục pháp luật trong các trường đại học không chuyên với việc cấu trúc lại kiến thức đào tạo ở bậc đại học", Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 5.

Khoảng trống và vị trí của luận án

Các công trình và bài viết kể trên chủ yếu tiếp cận từng mặt, từng khía cạnh của giáo dục pháp luật nói chung hoặc giới hạn ở bậc học phổ thông, phạm vi hẹp ở một số dân tộc thiểu số hay nghiên cứu tội phạm học. Luận án của Đinh Xuân Thảo là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về cơ sở lý luận (khái niệm, bản chất, đặc trưng, cấu trúc bên trong) lẫn thực trạng thực tiễn công tác giáo dục pháp luật trong khối các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật ở Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

Luận án vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền, đề cao vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội và chiến lược phát triển nhân tố con người toàn diện phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tác giả phân tích và phê phán 4 quan niệm phiến diện đang tồn tại về giáo dục pháp luật:

  1. Đồng nhất giáo dục pháp luật là một bộ phận phụ thuộc của giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức (coi ý thức pháp luật là "sản phẩm phụ").
  2. Đồng nhất giáo dục pháp luật đơn thuần với hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.
  3. Đồng nhất giáo dục pháp luật thuần túy với việc dạy và học pháp luật trong nhà trường.
  4. Phủ nhận sự tồn tại của khái niệm giáo dục pháp luật (cho rằng pháp luật mang tính bắt buộc nên chỉ cần phổ biến để người dân tự tìm hiểu).

Từ đó, luận án xác lập định nghĩa chuẩn xác: Giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.

Luận án thiết lập khung phân tích mối quan hệ giữa ba phạm trù: Giáo dục pháp luật, Ý thức pháp luật và Văn hóa pháp lý:

Tiêu chí Ý thức pháp luật Văn hóa pháp lý
Bản chất Hệ thống quan điểm, quan niệm phản ánh thái độ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có. Bộ phận của văn hóa chung; sự thống nhất giữa kiến thức pháp lý, sự đánh giá và hành vi ứng xử phù hợp pháp luật.
Phạm vi Là một bộ phận cấu thành của văn hóa pháp lý. Khái niệm rộng hơn ý thức pháp luật, quy định chất lượng hệ thống pháp luật và tính ổn định của trật tự pháp lý.
Chức năng cơ bản 1. Phản ánh đời sống pháp luật.
2. Nhận thức pháp lý.
3. Điều chỉnh hành vi.
1. Thông tin (truyền bá các hiện tượng pháp lý).
2. Tâm lý (hình thành lòng tin, sự công bằng).
3. Tổ chức (điều chỉnh, bảo vệ quan hệ pháp luật qua tư vấn, xét xử).
Mối liên hệ với GDPL GDPL đóng vai trò chủ đạo của nhân tố chủ quan trong quá trình hình thành ý thức pháp luật. Văn hóa pháp lý chỉ có thể hình thành và phát triển bền vững trên cơ sở hoạt động giáo dục pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn:

  • Phương pháp luận chung: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận giải các phạm trù lý luận, mục tiêu, cấu trúc đào tạo.
    • Phương pháp lịch sử và so sánh: Kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm giáo dục pháp luật trong nước qua các thời kỳ và bài học từ các nước (Liên Xô cũ, Đông Âu, phương Tây).
    • Phương pháp điều tra xã hội học pháp luật: Đánh giá nhu cầu, mức độ hiểu biết, thực trạng chấp hành pháp luật của học sinh, sinh viên.
    • Phương pháp thí điểm: Thử nghiệm mô hình chương trình và phương pháp giảng dạy tại một số cơ sở giáo dục.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện của Đảng: Nghị quyết Đại hội Đảng, Báo cáo chính trị tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (9/1980).
  • Văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, các đạo luật hiện hành, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nghị định số 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
  • Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác giảng dạy pháp luật của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp; số liệu thống kê tội phạm, vi phạm pháp luật trong lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) - Hình thức đặc biệt quan trọng của giáo dục pháp luật

Chương 1 làm sáng tỏ hệ thống lý luận về bản chất, vai trò, cấu trúc bên trong và tính tất yếu khách quan của công tác giáo dục pháp luật trong khối trường không chuyên luật:

1. Khái niệm và các tính chất đặc thù

Tác giả phân loại 4 nhóm đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật trong xã hội:

  • Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (vừa là đối tượng vừa là chủ thể).
  • Các nhà kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.
  • Thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên (thế hệ trẻ bước vào thế kỷ XXI).
  • Các đối tượng có đặc điểm tự nhiên cần được bảo vệ đặc biệt (phụ nữ, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số).

Luận án phân tích 4 yếu tố cấu trúc bên trong mang tính đặc thù của giáo dục pháp luật trong trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề:

  • Về mục đích: Không dừng lại ở việc trang bị tri thức công dân thông thường mà nhằm chuẩn bị nền tảng nhân cách cho đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý và công nhân lành nghề tương lai. Giúp họ vừa sống, làm việc theo pháp luật với tư cách công dân, vừa có năng lực áp dụng, bảo vệ pháp luật trên cương vị nghề nghiệp.
  • Về đối tượng (Học sinh - sinh viên):
    • Ưu điểm: Là tầng lớp xã hội tiến bộ, năng động, có tư duy sáng tạo, ham học hỏi, chuẩn bị trở thành lực lượng lao động trí óc.
    • Hạn chế: Nông nổi, bồng bột, dễ bị kích động, thường sinh hoạt theo nhóm tự phát chịu ảnh hưởng lẫn nhau.
    • Đặc điểm ý thức pháp luật: Chưa đầy đủ, thiếu hệ thống sâu sắc so với cán bộ chuyên môn; dễ biến động và chịu tác động trực tiếp từ gia đình, bạn bè và dư luận xã hội.
  • Về nội dung: Được tích hợp trong 5 lĩnh vực phát triển toàn diện nhân cách (trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục và giáo dục lao động). Nội dung có tính hệ thống và ổn định tương đối (ấn định theo chương trình), nhưng đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn giữa "tính ổn định" của chương trình và "trạng thái động, biến đổi nhanh" của hệ thống pháp luật thực định. Nội dung được cấu trúc thành:
    • Phần cứng: Tri thức lý luận cơ bản về Nhà nước - pháp luật và các quy phạm pháp luật thực định chung (áp dụng cho đào tạo đại cương).
    • Phần mềm: Tri thức pháp luật chuyên ngành gắn trực tiếp với lĩnh vực nghề nghiệp đào tạo (áp dụng cho đào tạo chuyên ngành).

Luận án xác định 3 cấp độ yêu cầu của nội dung giáo dục pháp luật:

  1. Yêu cầu tối thiểu: Kiến thức pháp luật phổ thông cho mọi công dân (bản chất nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản, thủ tục bảo vệ quyền lợi).
  2. Yêu cầu theo nhu cầu ngành nghề: Khái niệm khoa học pháp lý chuyên sâu, pháp luật thực định và quy trình tố tụng liên quan đến hoạt động nghề nghiệp cụ thể (áp dụng cho khối trường đại học, trung học chuyên nghiệp không chuyên luật).
  3. Yêu cầu chuyên ngành: Dành riêng cho người hành nghề luật chuyên nghiệp.
  • Về phương pháp: Mang tính hai mặt (hoạt động dạy của thầy đóng vai trò chủ đạo, hoạt động học của trò mang tính tích cực, chủ động). Luận án khái quát 5 đặc điểm phương pháp:
    1. Gắn liền với quá trình dạy học sư phạm và kế thừa các phương pháp phổ thông (thuyết trình, vấn đáp, bài tập, kiểm tra đánh giá).
    2. Gắn liền với ngành nghề đào tạo cụ thể của từng trường, tránh biến môn học thành lý thuyết chung chung hoặc xem là môn phụ.
    3. Gắn liền với thực tiễn đời sống xã hội và sự phát triển của khoa học - công nghệ.
    4. Gắn liền với phương pháp nghiên cứu khoa học, phát huy tính độc lập, tư duy phản biện của sinh viên.
    5. Đa dạng, linh hoạt theo từng khối trường, loại hình trường và điều kiện phương tiện kỹ thuật.

2. Tính tất yếu khách quan của giáo dục pháp luật trong nhà trường

Tác giả chứng minh tính tất yếu xuất phát từ 4 nguồn gốc:

  1. Bắt nguồn từ vai trò của pháp luật trong quản lý và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Bắt nguồn từ vị trí tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong mô hình Nhà nước pháp quyền.
  3. Bắt nguồn từ yêu cầu đề cao nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  4. Bắt nguồn từ mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện của hệ thống giáo dục quốc dân.

Chương 2: Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề - Thực trạng và bài học kinh nghiệm

Chương 2 tổng kết dữ liệu khảo sát thực tế và phân tích kinh nghiệm:

1. Thực trạng giáo dục pháp luật ở nước ta

  • Hiểu biết và nhu cầu của học sinh, sinh viên: Nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người học rất lớn, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền lợi cá nhân và định hướng lập nghiệp. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết pháp luật thực tế còn thấp, tản mạn, thiếu tính chính xác và chưa tạo thành thói quen đối chiếu hành vi với chuẩn mực pháp lý.
  • Tình hình thực hiện pháp luật: Vẫn còn tình trạng vi phạm nội quy, quy chế thi cử, tham gia các tệ nạn xã hội hoặc vi phạm pháp luật hành chính, hình sự trong một bộ phận học sinh, sinh viên.
  • Tình hình tổ chức dạy và học: Việc giảng dạy pháp luật chưa có tính đồng bộ; giáo trình, tài liệu tham khảo còn chắp vá, lạc hậu so với văn bản pháp luật ban hành mới; đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm hoặc thiếu kiến thức sư phạm pháp luật chuyên sâu; phương pháp giảng dạy nặng về truyền đạt một chiều, khô cứng.

2. Bài học kinh nghiệm

  • Kinh nghiệm trong nước: Khẳng định sự cần thiết phải kết hợp giữa giảng dạy chính khóa với các hình thức giáo dục ngoại khóa (câu lạc bộ pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, tham dự phiên tòa lưu động, diễn án); thiết lập sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường: Nhà trường - Gia đình - Xã hội.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết kinh nghiệm của Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu từ đầu thập niên 1970 trong việc đưa pháp luật vào hệ thống giáo dục quốc dân có hệ thống, cũng như kinh nghiệm đào tạo kỹ năng pháp lý gắn liền với thực tiễn nghề nghiệp tại một số nước phương Tây.

Chương 3: Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề - Phương hướng và giải pháp

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp tổ chức:

1. Bốn phương hướng tăng cường giáo dục pháp luật

  1. Đổi mới căn bản quan điểm và nhận thức về vị trí độc lập tương đối của môn học pháp luật trong toàn bộ hệ thống giáo dục đào tạo.
  2. Xác định đúng đắn các hình thức, phương pháp truyền tải tri thức pháp luật phù hợp với từng đối tượng, từng loại hình trường lớp.
  3. Đẩy mạnh công tác đào tạo, chuẩn hóa và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên chuyên trách dạy pháp luật.
  4. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, chỉ đạo, phối hợp tổ chức thực hiện giữa ngành Giáo dục và ngành Tư pháp.

2. Bốn nhóm giải pháp cụ thể

  1. Xây dựng chương trình khung giáo dục pháp luật chuẩn quốc gia: Thiết kế chương trình có cấu trúc khoa học, liên thông từ phổ thông đến chuyên nghiệp, phân tách rành mạch giữa phần kiến thức chung bắt buộc (pháp luật đại cương) và phần kiến thức pháp luật chuyên ngành gắn với chuyên môn đào tạo.
  2. Tổ chức biên soạn hệ thống sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo: Biên soạn đồng bộ sách giáo khoa chuẩn, tài liệu hướng dẫn giảng dạy, hệ thống bài tập tình huống thực tế và bổ sung cơ chế cập nhật kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành.
  3. Tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy pháp luật: Thành lập các khoa/bộ môn sư phạm pháp luật, tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sư phạm cho cử nhân luật và bồi dưỡng kiến thức pháp luật chuyên ngành cho giảng viên các trường kỹ thuật, kinh tế.
  4. Xây dựng cơ chế phối hợp tổ chức thực hiện: Hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên) và các cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát) trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật thực tiễn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học lý luận

  • Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận, nội hàm cấu trúc của giáo dục pháp luật trong khối trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật tại Việt Nam.
  • Luận giải rõ ràng tính độc lập tương đối của giáo dục pháp luật, phân biệt với giáo dục chính trị, giáo dục tư tưởng, giáo dục đạo đức và giáo dục văn hóa.
  • Xác lập cơ sở khoa học về mối quan hệ giữa ba phạm trù: Giáo dục pháp luật, Ý thức pháp luật và Văn hóa pháp lý; định vị giáo dục pháp luật là nhân tố chủ quan giữ vai trò chủ đạo định hướng quá trình hình thành ý thức pháp luật cá nhân.
  • Phát hiện và phân tích toàn diện 5 đặc thù của phương pháp giáo dục pháp luật trong mối liên hệ trực tiếp với mục tiêu đào tạo nghề nghiệp tại nhà trường chuyên nghiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng

  • Đánh giá bức tranh thực trạng về nhận thức, nhu cầu học tập pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật của học sinh, sinh viên Việt Nam trong giai đoạn 1990–1996.
  • Đề xuất mô hình chương trình khung mẫu môn học pháp luật dành cho các khối ngành (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn, kỹ thuật - nghề nghiệp), kết hợp hài hòa giữa phần kiến thức cứng và phần kiến thức mềm.
  • Đưa ra các khuyến nghị có giá trị ứng dụng trực tiếp cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp trong việc hoạch định chính sách, biên soạn giáo trình và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy pháp luật trên toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình được thực hiện năm 1996, trong bối cảnh hệ thống pháp luật thực định của Việt Nam đang trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nhiều bộ luật lớn chưa được ban hành hoặc liên tục sửa đổi, bổ sung. Do đó, các số liệu và dẫn chứng về văn bản quy phạm pháp luật mang tính lịch sử của thời kỳ đổi mới. Luận án chủ yếu tập trung vào khối không chuyên luật nên chưa phân tích sâu sự tương tác giữa hệ thống đào tạo chuyên luật và không chuyên luật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục hoàn thiện các chương trình chi tiết môn học pháp luật chuyên ngành cho từng nhóm ngành kỹ thuật, y dược, nông lâm nghiệp cụ thể.
    • Nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá định lượng hiệu quả tác động của các phương pháp giảng dạy tích cực và phương tiện công nghệ hiện đại đối với việc chuyển biến hành vi pháp lý của học sinh, sinh viên.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp): Tham khảo luận cứ khoa học để xây dựng chuẩn chương trình giáo dục pháp luật quốc gia, quy chế phối hợp liên ngành và kế hoạch biên soạn sách giáo khoa, giáo trình chuẩn.
  • Đối với các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề: Cung cấp định hướng xây dựng đề cương môn học, phân bổ thời lượng hợp lý giữa đại cương và chuyên ngành, áp dụng các phương pháp giảng dạy gắn với nghề nghiệp.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Giáo dục học: Tài liệu tham khảo nền tảng về phương pháp luận giảng dạy pháp lý, hệ thống khái niệm văn hóa pháp lý, ý thức pháp luật và cấu trúc sư phạm môn học pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "Giáo dục pháp luật" như thế nào?

Giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.

2. Ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên có những đặc trưng tâm lý nào theo phân tích của tác giả?

Học sinh, sinh viên là tầng lớp trẻ tuổi, nhạy bén, ham học hỏi nhưng ý thức pháp luật chưa đầy đủ, thiếu hệ thống sâu sắc so với cán bộ chuyên môn. Họ dễ bị kích động, thích sinh hoạt theo nhóm tự phát và ý thức pháp luật rất dễ biến động, chịu tác động trực tiếp từ gia đình, bạn bè và dư luận xã hội xung quanh.

3. Ba cấp độ yêu cầu của nội dung giáo dục pháp luật gồm những gì?

  • Cấp độ 1: Yêu cầu tối thiểu về pháp luật phổ thông cho mọi công dân.
  • Cấp độ 2: Yêu cầu riêng về pháp luật theo nhu cầu ngành nghề đào tạo cụ thể.
  • Cấp độ 3: Yêu cầu về đào tạo pháp luật chuyên sâu dành cho người hành nghề luật chuyên nghiệp.

4. Giải pháp phân chia "phần cứng" và "phần mềm" trong chương trình giáo dục pháp luật được hiểu như thế nào?

  • "Phần cứng": Bao gồm tri thức lý luận cơ bản về Nhà nước - Pháp luật và các quy định pháp luật thực định cốt lõi mang tính ổn định, bắt buộc chung cho toàn bộ sinh viên trong giai đoạn đại cương.
  • "Phần mềm": Bao gồm các kiến thức pháp luật chuyên ngành gắn liền với lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp và các thông tin pháp lý thực tiễn, có tính linh hoạt và thường xuyên cập nhật theo biến động của đời sống kinh tế - xã hội.

5. Luận án có kết cấu tổng thể như thế nào?

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 2 Phụ lục, luận án gồm 3 chương với 6 tiết nội dung:

  • Chương 1: Lý luận về tính đặc thù và tính tất yếu của giáo dục pháp luật trong các trường không chuyên luật (2 tiết).
  • Chương 2: Thực trạng và bài học kinh nghiệm trong nước, quốc tế (2 tiết).
  • Chương 3: Phương hướng và 4 nhóm giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật (2 tiết).

Kết luận

Luận án của PTS. Đinh Xuân Thảo là công trình nghiên cứu toàn diện, đặt nền móng lý luận và thực tiễn cho công tác giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật tại Việt Nam thời kỳ đổi mới. Luận án đã hệ thống hóa bản chất, cấu trúc đặc thù của môn học, phân định rõ mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý, đồng thời đánh giá sát thực trạng giảng dạy tại thời điểm năm 1996. Hệ thống 4 phương hướng và 4 nhóm giải pháp được đề xuất — đặc biệt là mô hình chương trình khung phân định phần cứng/phần mềm — giữ giá trị khoa học và ứng dụng lâu dài trong việc chuẩn hóa công tác đào tạo pháp lý cho các thế hệ người lao động tương lai.