Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập tỉnh phú thọ

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng kịch tại Yên Lập, Phú Thọ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, tự tin và khả năng tương tác xã hội hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Hùng Vương

Chuyên ngành

Giáo dục Mầm non

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

99
16
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1. Ý nghĩa khoa học

2.2. Ý nghĩa thực tiễn

3. Mục tiêu nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng giao tiếp và trò chơi đóng kịch làm cơ sở nội dung và các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

4.2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trƣờng mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

4.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

4.4. Thực nghiệm sƣ phạm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất

5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Đối tượng nghiên cứu

5.2. Phạm vi nghiên cứu

5. Nội dung nghiên cứu

4. Khách thể nghiên cứu

6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận

6. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.1. Phương pháp chuyên gia

6.2. Phương pháp điều tra

6.3. Phương pháp quan sát

6.4. Phương pháp đàm thoại

6.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

6.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6.7. Phương pháp xử lí số liệu

7. Cấu trúc của khóa luận

PHẦN NỘI DUNG

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí luận của đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

1.2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước

1.3. Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng

1.3.1. Khái niệm giáo dục kỹ năng giao tiếp

1.3.2. Vai trò giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

1.3.3. Nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

1.3.4. Đặc điểm phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

1.4. Trò chơi đóng kịch

1.4.1. Khái niệm trò chơi đóng kịch

1.4.2. Đặc điểm của trò chơi đóng kịch ở lứa tuổi mẫu giáo

1.4.3. Các yếu tố ảnh hƣởng của trò chơi đóng kịch với việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

1.4.3.1. Yếu tố chủ quan
1.4.3.2. Yếu tố khách quan

1.5. Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.5.1. Mục đích khảo sát

1.5.2. Đối tƣợng khảo sát

1.5.3. Nội dung khảo sát

1.5.4. Phƣơng pháp khảo sát

1.5.5. Tiêu chí và thang đánh giá mức độ và biểu hiện của trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng về kỹ năng giao tiếp

1.5.6. Kết quả điều tra

1.5.6.1. Thực trạng nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
1.5.6.1.1. Nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng
1.5.6.2. Thực trạng nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
1.5.6.2.1. Nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi
1.5.6.3. Thực trạng mức độ và biểu hiện của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường về kỹ năng giao tiếp
1.5.6.3.1. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp
1.5.6.4. Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường đã được áp dụng tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
1.5.6.4.1. Mức độ thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng đã đƣợc tiến hành tại cơ sở thực nghiệm

1.6. Tiểu kết chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƢỜI DÂN TỘC MƢỜNG THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG KỊCH TẠI HUYỆN YÊN LẬP-TỈNH PHÖ THỌ

2.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

2.1.1. Nội dung các biện pháp được đề xuất phải dựa trên mục tiêu giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

2.1.2. Phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

2.1.3. Phải được xây dựng dựa trên sự hiểu biết thực tế về phân hóa kỹ năng giao tiếp, về sự khác biệt kỹ năng giao tiếp của trẻ người dân tộc Mường

2.2. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

2.2.1. Truyền tải nội dung từ Tiếng Việt sang tiếng Mường theo nội dung đã chọn

2.2.2. Lập kế hoạch giáo dục nhằm tăng cường giáo dục kỹ năng hợp tác và khả năng biểu lộ thái độ tình cảm qua trò chơi đóng kịch cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

2.2.3. Xây dựng, sưu tầm kịch bản có lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp như: Làm việc hợp tác, biểu lộ thái độ tình cảm trong nội dung của trò chơi đóng kịch cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

2.2.4. Xây dựng quy trình tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

2.3. Tiểu kết chƣơng 2

3. CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tƣợng, phạm vi, thời gian thực nghiệm

3.2.1. Đối tượng, phạm vi thực nghiệm

3.2.2. Thời gian thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Tiêu chí và thang đánh giá kết quả thực nghiệm

3.5. Tiến hành thực nghiệm

3.6. Kết quả thực nghiệm

3.6.1. Kết quả trước thực nghiệm

3.6.1.1. Mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực nghiệm và đối chứng) trƣớc thực nghiệm
3.6.1.2. So sánh kết quả mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ của nhóm thực nghiệm và đối chứng trƣớc thực nghiệm
3.6.1.3. Thực trạng về biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trƣớc thực nghiệm
3.6.1.4. Biểu đồ so sánh thực trạng biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trƣớc thực nghiệm

3.6.2. Kết quả sau thực nghiệm

3.6.2.1. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực hiện và đối chứng) sau thực nghiệm
3.6.2.2. Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm
3.6.2.3. So sánh hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm
3.6.2.4. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trƣớc và sau khi thực nghiệm
3.6.2.5. So sánh mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trƣớc và sau khi tiến hành thực nghiệm

3.7. Tiểu kết chƣơng 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Đối với giáo viên mầm non

3.2. Đối với trường mầm non

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN

DANH SÁCH TRẺ Ở NHÓM THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG

ẢNH THỰC NGHIỆM

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1.1. Nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng

1.2. Nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi

1.3. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp

1.4. Mức độ thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng đã đƣợc tiến hành tại cơ sở thực nghiệm

1.5. Mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực nghiệm và đối chứng) trƣớc thực nghiệm

1.6. So sánh kết quả mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ của nhóm thực nghiệm và đối chứng trƣớc thực nghiệm

1.7. Thực trạng về biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trƣớc thực nghiệm (theo tiêu chí)

1.8. Biểu đồ so sánh thực trạng biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trƣớc thực nghiệm (theo tiêu chí)

1.9. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực hiện và đối chứng) sau thực nghiệm

1.10. Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm

1.11. So sánh hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm

1.12. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trƣớc và sau khi thực nghiệm

1.13. So sánh mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trƣớc và sau khi tiến hành thực nghiệm

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của đề tài

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi là một vấn đề quan trọng trong giáo dục mầm non, đặc biệt đối với trẻ em người dân tộc Mường. Kỹ năng giao tiếp không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và xã hội của trẻ. Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua trò chơi đóng kịch là một phương pháp hiệu quả, giúp trẻ học hỏi và thực hành giao tiếp trong môi trường vui vẻ và sáng tạo. Theo nghiên cứu, trẻ em ở độ tuổi này thường gặp khó khăn trong việc giao tiếp do hạn chế về vốn từ và kinh nghiệm sống. Do đó, việc áp dụng phương pháp giáo dục trẻ thông qua trò chơi không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà còn khuyến khích sự tự tin và khả năng tương tác xã hội.

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ em đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới. Các nhà nghiên cứu như Kak Hai Nodich và Linda Maget đã chỉ ra rằng việc phát triển ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp cho trẻ cần được bắt đầu từ sớm. Họ nhấn mạnh rằng môi trường giao tiếp phong phú và đa dạng là yếu tố quyết định giúp trẻ phát triển kỹ năng này. Đặc biệt, việc sử dụng trò chơi đóng kịch trong giáo dục không chỉ giúp trẻ học hỏi mà còn tạo ra không gian an toàn để trẻ thực hành giao tiếp. Điều này rất quan trọng đối với trẻ em người dân tộc Mường, nơi mà việc giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế.

II. Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp

Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ cho thấy nhiều thách thức. Trẻ em thường thiếu tự tin trong giao tiếp và gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý tưởng của mình. Nhiều giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp thông qua trò chơi đóng kịch. Các hoạt động giáo dục hiện tại chủ yếu tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà chưa chú trọng đến việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Điều này dẫn đến việc trẻ không có cơ hội thực hành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp trong môi trường tự nhiên. Việc tổ chức các hoạt động hoạt động vui chơi cho trẻ cần được cải thiện để tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ thực hành giao tiếp.

2.1. Nhận thức của giáo viên và phụ huynh

Nhận thức của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường còn hạn chế. Nhiều giáo viên chưa có đủ kiến thức và kỹ năng để tổ chức các hoạt động trò chơi sáng tạo nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Phụ huynh cũng chưa nhận thức rõ về vai trò của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp trong sự phát triển toàn diện của trẻ. Họ thường chỉ tập trung vào việc học tập mà không chú trọng đến việc phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ. Điều này cần được cải thiện thông qua các chương trình đào tạo cho giáo viên và các buổi hội thảo cho phụ huynh.

III. Đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp

Để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường, cần thiết phải áp dụng một số biện pháp cụ thể. Đầu tiên, giáo viên cần được đào tạo về phương pháp giáo dục trẻ thông qua trò chơi đóng kịch. Việc xây dựng các kịch bản phù hợp với tâm lý và nhu cầu của trẻ sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận và thực hành kỹ năng giao tiếp. Thứ hai, cần tổ chức các hoạt động hoạt động ngoại khóa cho trẻ để trẻ có cơ hội giao lưu và thực hành giao tiếp trong môi trường tự nhiên. Cuối cùng, việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ là rất quan trọng. Phụ huynh cần được hướng dẫn cách tạo môi trường giao tiếp tích cực tại nhà.

3.1. Tổ chức các hoạt động giáo dục

Các hoạt động giáo dục cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ. Việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp vào các trò chơi sẽ giúp trẻ học hỏi một cách tự nhiên và hiệu quả. Các trò chơi như đóng vai, kể chuyện, và các hoạt động nhóm sẽ tạo ra cơ hội cho trẻ thực hành giao tiếp. Hơn nữa, việc khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động cộng đồng cũng sẽ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp và tự tin hơn trong giao tiếp xã hội.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu - Phần nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên – tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm - Kết luận và kiến nghị 6 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Giáo dục kỹ năng giao tiếp nhằm góp phần tăng cƣờng nói Tiếng Việt cho trẻ dân tộc Mƣờng.

Do vậy, giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch đƣợc nhiều nhà tâm lý, giáo dục học ngoài nƣớc nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu theo các hƣớng nhƣ sau: Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hƣớng nghiên cứu này có P.trong các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Tác giả Kak Hai Nodich [24] ngƣời Đức đã nêu rõ ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ngôn ngữ ở từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, nhiệm vụ của ngƣời lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KNGT và trí tuệ của trẻ.

Trẻ sơ sinh chƣa có ngôn ngữ, chƣa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp nhƣ: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến luyện nói. Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con ở giai đoạn lứa tuổi này có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp. Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Muốn giúp trẻ giao tiếp phải tạo môi trƣờng giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn 7 thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu giao tiếp.

Tác giả đã giúp cho phụ huynh có con ở lứa tuổi mẫu giáo biết cách lựa chọn môi trƣờng giáo dục phù hợp để trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp. Tác giả Steven Gutstin [24] cho rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu đƣợc bản thân trẻ (tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu đƣợc mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tƣợng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề trẻ biết cách giao tiếp phù hợp. Tác giả đã giúp cho GV, PH biết đƣợc một phƣơng pháp mới trong việc phát triển KNGT cho trẻ.

Kurbawa và Ph. Rakhmatinlira đi sâu vào nghiên cứu các nhóm kỹ năng giao tiếp và chia kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm kỹ năng [11]: + Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chủ động chào khi gặp mặt và nói lời tạm biệt khi chia tay; trẻ biết dùng ngôn ngữ để yêu cầu về đồ vật, về thông tin, về sự giúp đỡ với bạn bè trong khi chơi, để trao đổi với bạn một cách chủ động; đồng thời trẻ biết dùng ngôn ngữ để từ chối sự giúp đỡ, từ chối thông tin từ chối đồ vật khi những điều ấy không đáp ứng nhu cầu của trẻ; trẻ biết chia sẻ thông tin, cung cấp thông tin, đề nghị giúp đỡ bạn trong khi chơi. thông qua hoạt động hằng ngày giúp trẻ biết thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với bạn bè một cách chủ động và tự tin hơn. + Kỹ năng diễn đạt nghĩa trong câu bao gồm trẻ biết miêu tả sự vật, hiện tƣợng đang ở trong tình huống hiện tại, trẻ biết diễn tả đúng những điều mình mong muốn cho bạn hiểu; trẻ biết dùng câu để diễn tả sự phủ định, sự từ chối của trẻ, sự biến mất hay sự ngừng lại của một sự vật hiện tƣợng; trẻ biết nói về vị trí, thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng; trong câu nói của trẻ thể hiện sự sở hữu sự vật, hiện tƣợng, trẻ có thể đặt ra về nơi chốn, cái gì, tại sao, ai và về những câu hỏi có, không.

+ Kỹ năng diễn đạt các đặc điểm văn phạm trong câu: ở kỹ năng này xem xét xem trẻ có sử dụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật hiện tƣợng hay không? trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơn 8 giản của đồ vật, trẻ có biết sử dụng từ “đang” để nói về hoạt động xảy ra ở hiện tại; về các đại từ sở hữu, đại từ nhân xƣng mà trẻ sử dụng, về các câu trẻ muốn nói về thời tƣơng lai và thời quá khứ. Mặc dù, đây là một trong những mục tiêu đặt ra để xây dựng những biện pháp giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt hơn nhƣng đây là mục tiêu thứ trong các mục tiêu ƣu tiên ở trên. Nếu cách phân chia nhóm KNGT của A. Kurbawa và Ph.

Rakhmatinlira [24] chủ yếu dựa vào khả năng sử dụng ngôn ngữ thì cách phân chia của V.P Dakharop toàn diện hơn, V.P Dakharop đã dựa vào các bƣớc tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng kỹ năng giao tiếp gồm có kỹ năng sau. + Kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp + Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tƣợng giao tiếp + Kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tƣợng giao tiếp + Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi + Kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp + Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc + Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp + Kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp + Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp + Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tƣợng giao tiếp Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho thấy nhiều nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo: quá trình phát sinh, phát triển giao tiếp, ngôn ngữ, tính cách, tính tích cực, .và nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý khác của nhân cách ở lứa tuổi từ 0 – 6 tuổi. Những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc đi theo hƣớng đề tài nhƣ tính tích cực nhận thƣc, tính tích cực học tập, tính chủ động giao tiếp của các nhà tâm lý học nhƣ: G.Dapqrozet đã khẳng định: “Tính chủ động trong giao tiếp của trẻ mẫu giáo phụ thuộc vào tính chủ động của ngƣời lớn. tính chủ động của trẻ không đều, trẻ nhỏ tuổi có tính chủ động thấp hơn 9 trẻ lớn (5 – 6 tuổi) và phụ thuộc nhiều vào tính chủ động của ngƣời lớn, chờ ngƣời lớn bộc lộ quan hệ với mình”.

Trẻ em 5-6 tuổi có tính chủ động giao tiếp cao hơn, ít phụ thuộc vào tính tích cực của ngƣời lớn, các em tự chủ động thiết lập mối quan hệ khi ngƣời lớn xuất hiện, xác định vị trí của mình trong các cuộc tiếp xúc và bày tỏ với ngƣời lớn những mong muỗn của chúng theo nội dung của sự tác động qua lại. Các tác giả đã rút ra kết luận: - Tính chủ động giao tiếp của trẻ mẫu giáo là một biểu hiện, mọt thành phần tâm lý của tính tích cực giao tiếp. - Tính chủ động giao tiếp của trẻ em mẫu giáo trƣớc và sau khi tiếp xúc, xúc cảm với ngƣời xung quanh có sự thay đổi. Sau khi tiếp xúc tính chủ động của trẻ cao hơn trƣớc khi tiếp xúc.

Khi nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp của trẻ Anna Freud. đã chia sẻ: “Nghiên cứu nhu cầu giao tiếp là vấn đề khó trong giao tiếp, nghiên cứu nó cho phép hiểu đƣợc nguồn gốc của sự phát triển tính tích cực giao tiếp của con ngƣời, cho phép trả lời đƣợc các vấn đề quan trọng nhất trong tâm lý học về nguồn gốc của sự phát triển tính tích cực giao tiếp của con ngƣời, cho phép trả lời vấn đề quan trọng nhất trong tâm lý học về nguồn gốc và nguyên nhân họat động cá nhân”. Còn rất nhiều các nhà tâm lý học khác cũng nghiên cứu về giao tiếp của trẻ mầm non, vì vấn đề nghiên cứu này là một hƣớng nghiên cứu ứng dụng giao tiếp vào các lĩnh vực của đời sống đƣợc các tác giả quan tâm, chú trọng. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định: ảnh hƣởng to lớn và mối quan hệ giữa các yếu tố kỹ năng giao tiếp với sự phát triển các chức năng tâm lý của trẻ.

Các nghiên cứu về trò chơi của trẻ cũng rất phong phú, các nhà tâm lý học theo hƣớng coi trọng sinh học nhƣ K.quan niệm, chơi là do bản năng, chơi là sự giải tỏa năng lƣơng dƣ thừa và trò chơi của trẻ em giống nhƣ trò chơi của động vật. Từ đó họ phủ nhận ảnh hƣởng của môi trƣờng xã hội đến nội dung chơi của trẻ. Một số nhà Phân tâm học (Z. lại coi chơi là những giấc mơ, mộng ảo.

và cho rằng, chơi chính là phƣơng tiện để “trả thù” những ngƣời xung quanh luôn cấm đoán trẻ.) Các quan điểm trên quá đề cao cơ sở sinh học của trò chơi. Có thể nói, sự phát triển thể chất (cơ sở sinh học) chính là tiền đề, nguồn gốc đầu tiên của hoạt động chơi của trẻ. Tuy nhiên, chơi có nguồn gốc từ lao động, cho nên cần cho trẻ tham gia vào các lao động, các hoạt động phản ánh cuộc sống xung quanh thì trẻ mới có thể hình thành và phát triển tâm lý, ý thức cũng nhƣ phát triển đƣợc các kỹ năng giao tiếp. Do đó, phải có cái nhìn khách quan hơn về hoạt động chơi của trẻ.

Nếu coi nhẹ tính xã hội, hoặc quá đề cao tính xã hội của chơi mà phủ nhận hoàn toàn cơ sở sinh học thì không thấy đƣợc vai trò của các chức năng sinh lý, nhất là sinh lý thần kinh trong việc tham gia vào điều hòa các kỹ năng giao tiếp ở mối cá thể. Các nhà tâm lý học và giáo dục Macxít L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo Dục Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ 5-6 Tuổi Qua Trò Chơi Đóng Kịch Tại Yên Lập, Phú Thọ là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo thông qua phương pháp sáng tạo là trò chơi đóng kịch. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng trò chơi như một công cụ giáo dục hiệu quả, giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, phát triển ngôn ngữ và khả năng tương tác xã hội. Đặc biệt, tài liệu cung cấp các ví dụ thực tiễn từ địa bàn Yên Lập, Phú Thọ, làm nổi bật tính ứng dụng cao của phương pháp này trong môi trường giáo dục mầm non.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Khóa luận tốt nghiệp một số biện pháp xây dựng mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường nhằm rèn thói quen giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi, nghiên cứu này tập trung vào vai trò của gia đình và nhà trường trong việc hình thành thói quen giao tiếp văn hóa cho trẻ. Ngoài ra, Luận án giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi cũng là một tài liệu hữu ích, mở rộng phạm vi nghiên cứu sang lứa tuổi lớn hơn. Cuối cùng, Khóa luận tốt nghiệp vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb để thiết kế hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi cung cấp góc nhìn mới về việc áp dụng lý thuyết học tập vào giáo dục trẻ nhỏ.