Phần mở đầu - Phần nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên – tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm - Kết luận và kiến nghị 6 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Giáo dục kỹ năng giao tiếp nhằm góp phần tăng cƣờng nói Tiếng Việt cho trẻ dân tộc Mƣờng.
Do vậy, giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non ngƣời dân tộc Mƣờng thông qua trò chơi đóng kịch đƣợc nhiều nhà tâm lý, giáo dục học ngoài nƣớc nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu theo các hƣớng nhƣ sau: Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hƣớng nghiên cứu này có P.trong các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Tác giả Kak Hai Nodich [24] ngƣời Đức đã nêu rõ ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ngôn ngữ ở từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, nhiệm vụ của ngƣời lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KNGT và trí tuệ của trẻ.
Trẻ sơ sinh chƣa có ngôn ngữ, chƣa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp nhƣ: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến luyện nói. Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con ở giai đoạn lứa tuổi này có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp. Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Muốn giúp trẻ giao tiếp phải tạo môi trƣờng giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn 7 thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu giao tiếp.
Tác giả đã giúp cho phụ huynh có con ở lứa tuổi mẫu giáo biết cách lựa chọn môi trƣờng giáo dục phù hợp để trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp. Tác giả Steven Gutstin [24] cho rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu đƣợc bản thân trẻ (tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu đƣợc mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tƣợng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề trẻ biết cách giao tiếp phù hợp. Tác giả đã giúp cho GV, PH biết đƣợc một phƣơng pháp mới trong việc phát triển KNGT cho trẻ.
Kurbawa và Ph. Rakhmatinlira đi sâu vào nghiên cứu các nhóm kỹ năng giao tiếp và chia kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm kỹ năng [11]: + Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chủ động chào khi gặp mặt và nói lời tạm biệt khi chia tay; trẻ biết dùng ngôn ngữ để yêu cầu về đồ vật, về thông tin, về sự giúp đỡ với bạn bè trong khi chơi, để trao đổi với bạn một cách chủ động; đồng thời trẻ biết dùng ngôn ngữ để từ chối sự giúp đỡ, từ chối thông tin từ chối đồ vật khi những điều ấy không đáp ứng nhu cầu của trẻ; trẻ biết chia sẻ thông tin, cung cấp thông tin, đề nghị giúp đỡ bạn trong khi chơi. thông qua hoạt động hằng ngày giúp trẻ biết thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với bạn bè một cách chủ động và tự tin hơn. + Kỹ năng diễn đạt nghĩa trong câu bao gồm trẻ biết miêu tả sự vật, hiện tƣợng đang ở trong tình huống hiện tại, trẻ biết diễn tả đúng những điều mình mong muốn cho bạn hiểu; trẻ biết dùng câu để diễn tả sự phủ định, sự từ chối của trẻ, sự biến mất hay sự ngừng lại của một sự vật hiện tƣợng; trẻ biết nói về vị trí, thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng; trong câu nói của trẻ thể hiện sự sở hữu sự vật, hiện tƣợng, trẻ có thể đặt ra về nơi chốn, cái gì, tại sao, ai và về những câu hỏi có, không.
+ Kỹ năng diễn đạt các đặc điểm văn phạm trong câu: ở kỹ năng này xem xét xem trẻ có sử dụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật hiện tƣợng hay không? trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơn 8 giản của đồ vật, trẻ có biết sử dụng từ “đang” để nói về hoạt động xảy ra ở hiện tại; về các đại từ sở hữu, đại từ nhân xƣng mà trẻ sử dụng, về các câu trẻ muốn nói về thời tƣơng lai và thời quá khứ. Mặc dù, đây là một trong những mục tiêu đặt ra để xây dựng những biện pháp giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt hơn nhƣng đây là mục tiêu thứ trong các mục tiêu ƣu tiên ở trên. Nếu cách phân chia nhóm KNGT của A. Kurbawa và Ph.
Rakhmatinlira [24] chủ yếu dựa vào khả năng sử dụng ngôn ngữ thì cách phân chia của V.P Dakharop toàn diện hơn, V.P Dakharop đã dựa vào các bƣớc tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng kỹ năng giao tiếp gồm có kỹ năng sau. + Kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp + Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tƣợng giao tiếp + Kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tƣợng giao tiếp + Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi + Kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp + Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc + Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp + Kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp + Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp + Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tƣợng giao tiếp Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho thấy nhiều nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo: quá trình phát sinh, phát triển giao tiếp, ngôn ngữ, tính cách, tính tích cực, .và nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý khác của nhân cách ở lứa tuổi từ 0 – 6 tuổi. Những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc đi theo hƣớng đề tài nhƣ tính tích cực nhận thƣc, tính tích cực học tập, tính chủ động giao tiếp của các nhà tâm lý học nhƣ: G.Dapqrozet đã khẳng định: “Tính chủ động trong giao tiếp của trẻ mẫu giáo phụ thuộc vào tính chủ động của ngƣời lớn. tính chủ động của trẻ không đều, trẻ nhỏ tuổi có tính chủ động thấp hơn 9 trẻ lớn (5 – 6 tuổi) và phụ thuộc nhiều vào tính chủ động của ngƣời lớn, chờ ngƣời lớn bộc lộ quan hệ với mình”.
Trẻ em 5-6 tuổi có tính chủ động giao tiếp cao hơn, ít phụ thuộc vào tính tích cực của ngƣời lớn, các em tự chủ động thiết lập mối quan hệ khi ngƣời lớn xuất hiện, xác định vị trí của mình trong các cuộc tiếp xúc và bày tỏ với ngƣời lớn những mong muỗn của chúng theo nội dung của sự tác động qua lại. Các tác giả đã rút ra kết luận: - Tính chủ động giao tiếp của trẻ mẫu giáo là một biểu hiện, mọt thành phần tâm lý của tính tích cực giao tiếp. - Tính chủ động giao tiếp của trẻ em mẫu giáo trƣớc và sau khi tiếp xúc, xúc cảm với ngƣời xung quanh có sự thay đổi. Sau khi tiếp xúc tính chủ động của trẻ cao hơn trƣớc khi tiếp xúc.
Khi nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp của trẻ Anna Freud. đã chia sẻ: “Nghiên cứu nhu cầu giao tiếp là vấn đề khó trong giao tiếp, nghiên cứu nó cho phép hiểu đƣợc nguồn gốc của sự phát triển tính tích cực giao tiếp của con ngƣời, cho phép trả lời đƣợc các vấn đề quan trọng nhất trong tâm lý học về nguồn gốc của sự phát triển tính tích cực giao tiếp của con ngƣời, cho phép trả lời vấn đề quan trọng nhất trong tâm lý học về nguồn gốc và nguyên nhân họat động cá nhân”. Còn rất nhiều các nhà tâm lý học khác cũng nghiên cứu về giao tiếp của trẻ mầm non, vì vấn đề nghiên cứu này là một hƣớng nghiên cứu ứng dụng giao tiếp vào các lĩnh vực của đời sống đƣợc các tác giả quan tâm, chú trọng. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định: ảnh hƣởng to lớn và mối quan hệ giữa các yếu tố kỹ năng giao tiếp với sự phát triển các chức năng tâm lý của trẻ.
Các nghiên cứu về trò chơi của trẻ cũng rất phong phú, các nhà tâm lý học theo hƣớng coi trọng sinh học nhƣ K.quan niệm, chơi là do bản năng, chơi là sự giải tỏa năng lƣơng dƣ thừa và trò chơi của trẻ em giống nhƣ trò chơi của động vật. Từ đó họ phủ nhận ảnh hƣởng của môi trƣờng xã hội đến nội dung chơi của trẻ. Một số nhà Phân tâm học (Z. lại coi chơi là những giấc mơ, mộng ảo.
và cho rằng, chơi chính là phƣơng tiện để “trả thù” những ngƣời xung quanh luôn cấm đoán trẻ.) Các quan điểm trên quá đề cao cơ sở sinh học của trò chơi. Có thể nói, sự phát triển thể chất (cơ sở sinh học) chính là tiền đề, nguồn gốc đầu tiên của hoạt động chơi của trẻ. Tuy nhiên, chơi có nguồn gốc từ lao động, cho nên cần cho trẻ tham gia vào các lao động, các hoạt động phản ánh cuộc sống xung quanh thì trẻ mới có thể hình thành và phát triển tâm lý, ý thức cũng nhƣ phát triển đƣợc các kỹ năng giao tiếp. Do đó, phải có cái nhìn khách quan hơn về hoạt động chơi của trẻ.
Nếu coi nhẹ tính xã hội, hoặc quá đề cao tính xã hội của chơi mà phủ nhận hoàn toàn cơ sở sinh học thì không thấy đƣợc vai trò của các chức năng sinh lý, nhất là sinh lý thần kinh trong việc tham gia vào điều hòa các kỹ năng giao tiếp ở mối cá thể. Các nhà tâm lý học và giáo dục Macxít L.