phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng 9 tiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu Xung quanh vấn đề Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã có nhiều tác giả trong nƣớc và nƣớc ngoài nghiên cứu theo những phƣơng diện khác nhau, nhƣng có thể phân định thành một số nhóm vấn đề sau đây: - Nhóm thứ nhất, đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và những yêu cầu đạo đức của Nho giáo, để từ đó thấy đƣợc sự ảnh hƣởng của Nho giáo đối với sự phát triển của xã hội. Trong đó có: Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, (2001); Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn, Hà Nội, (1994); Đạo Nho và văn hóa phương Đông của Hà Thúc Minh, Nhà xuất bản Giáo dục, (2001); Mối quan hệ giữa Nhân và Lễ trong học thuyết Khổng Tử của Nguyễn Thị Thanh Hải, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Huế, (2004); Tư tưởng Nhân, Lễ, Chính danh trong tác phẩm Luận ngữ của Khổng Tử và vận dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Bình, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Huế, (2005)… Các tác giả đã trình bày, phân tích những tƣ tƣởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Khi đánh giá về Nho giáo, bên cạnh phê phán đạo đức Nho giáo là khắt khe, trói buộc con ngƣời đặc biệt đối với phụ nữ, các tác giả đều đề cao những nhân tố tích cực của Nho giáo, cho rằng đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức con ngƣời và ổn định trật tự xã hội.
Về “quân tử” đã có một số bài viết trên các tạp chí, các báo đã đề cập đến nhƣ Quân tử qua tứ thư của Trần Hồng Thúy, tạp chí Triết học số 3 tháng 9 năm 1992. Bài viết đã nêu lên đƣợc những phẩm chất đạo đức mà quân tử phải tu dƣỡng, trong quan hệ ứng xử quân tử cần phải giúp ngƣời, nêu gƣơng, vấn đề nhận lỗi và sửa lỗi…Tư tưởng của Nguyễn Công Trứ về kẻ sĩ của Lê Thị Lan, tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 11 năm 2013 nêu lên đƣợc vị trí của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến Trung Hoa, còn trong xã hội Việt 5 Nam thì đó là ngƣời có tài, có đức. Kẻ sĩ cần phải có những phẩm chất và bổn phận đó là ngƣời tài, là nguyên khí của quốc gia. Chức phận của kẻ đại trƣợng phu trong vũ trụ là trên thì vì đức lớn, dƣới thì vì lợi ích của ngƣời dân, phải theo đạo vua tôi, dùng tài kinh luân của mình để gánh vác trọng trách trị quốc an dân.
- Nhóm thứ hai: Vấn đề đạo đức của thanh niên đƣợc đề cập trong Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Trịnh Duy Huy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, (2009); Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của Lê Thị Tuyết Ba, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, (2010), Đề tài Đạo đức của sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp của Vũ Thanh Hƣơng (Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004) , Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp nhà nƣớc thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Phạm Hồng Tung Mã số:KX.16/06- 10, Hà Nội, (2010), Đề tài khoa học cấp bộ Sự lựa chọn các giá trị đạo đức và nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên, của Huỳnh Văn Sơn (2009),…Các tác giả đã phân tích các yếu tố trong mối quan hệ đạo đức, thực trạng đạo đức của thanh niên và nêu ra một số cách giải quyết. Cuộc Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) vừa đƣợc Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình thực hiện với hơn 10.000 mẫu khảo sát ở 63 tỉnh thành, tiến hành từ năm 2008, và công bố vào tháng 6/2010, đã cung cấp những số liệu về gia đình, điều kiện sống, giáo dục, việc làm, sức khỏe, giải trí, thói quen, hành vi, hoài bão… của vị thành niên và thanh niên Việt Nam ngày nay. Với tinh thần cầu thị, tiếp bƣớc các công trình nghiên cứu trƣớc về Nho giáo, luận văn tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu những phạm trù cơ bản của Nho 6 giáo về đạo đức ngƣời quân tử để tìm ra những giá trị tích cực của nó góp phần vào việc hoàn thiện đạo đức con ngƣời, đặc biệt trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên nƣớc ta hiện nay. 7 CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƢỜI QUÂN TỬ 1.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NÊN ĐẠO ĐỨC NGƢỜI QUÂN TỬ Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục. Và có thể nói văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Bên cạnh những phát minh, phát triển về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hƣởng đến nền văn minh Châu Á cũng nhƣ nền văn minh trên toàn thế giới. Trong số các học thuyết triết học lớn đó, phải kể đến trƣờng phái triết học Nho gia.
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho”. Theo Hán tự “Nho”là chữ “Nhân” (ngƣời) đứng cạnh chữ “Nhu” (cần, chờ đợi). Nho gia còn gọi là nhà nho, ngƣời đã học thấu sách thánh hiền đƣợc thiên hạ cần để dạy bảo ngƣời đời ăn ở cho hợp luân thƣờng đạo lý. Trƣớc thời Xuân thu, nhà nho đƣợc gọi là “Sỹ” chuyên học văn chƣơng và lục nghệ góp phần trị vì đất nƣớc.
Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tƣ tƣởng và tri thức trƣớc đây trở thành học thuyết, gọi là Nho gia hay Nho học. Ngƣời ta cũng gắn học thuyết này với tên tuổi ngƣời đã sáng lập nên nó, gọi là Khổng học. Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, ngƣời làng Xƣơng Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc Phủ Duyện Châu, Tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông sinh vào năm 551 TCN.
Đó là lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền miên, các vua chúa chỉ lo hƣởng thụ và chém giết lẫn nhau để xƣng hùng, xƣng bá. Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt. Học thuyết của Khổng Tử lập thành hệ thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí mà dạy ngƣời. Lấy đạo cƣơng thƣờng mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự ở 8 trong xã hội cho bền vững.
Trong thập niên 70 của thế kỷ 20, một học giả ngƣời Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Zê - xu, Thích - ca - mầu – ni trong 100 nhân vật có ảnh hƣởng trong lịch sử. Khổng Tử là ngƣời sáng lập ra học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc. Hơn 2000 năm qua, tƣ tƣởng Nho giáo ảnh hƣởng đến với Trung Quốc không chỉ là chính trị, văn hóa mà còn trong sinh hoạt, ứng xử của con ngƣời. Khổng Tử sống trong thời Xuân thu.
Thời kỳ này, thể chế thống nhất của quốc gia bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều chƣ hầu lớn nhỏ. Học thuyết của Khổng Tử mới xuất hiện không trở thành tƣ tƣởng chủ yếu ngay lập tức mà mãi đến thế kỷ thứ 2 TCN thì tƣ tƣởng đó mới có đƣợc vị trí độc tôn. Trung Quốc lúc đó đã trở thành một nhà nƣớc theo chế độ tập quyền trung ƣơng lớn mạnh và thống nhất. Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các đại sĩ phu thời Hán, Khổng Tử và tƣ tƣởng Nho gia của ông mới trở thành tƣ tƣởng chính thống cho nhà nƣớc phong kiến Trung Hoa.
Thời Xuân thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thƣ, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thƣờng đƣợc gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất (479 TCN), học trò của ông tập hợp các lời dạy của thầy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học.
Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tƣ viết ra cuốn Trung dung. Đến thời chiến quốc, một ngƣời có công bảo vệ và phát triển Nho giáo là Mạnh Tử. Mạnh Tử (372 - 289 TCN) Tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dƣ ngƣời gốc nƣớc Trâu thuộc miền nam, tỉnh Sơn Đông ngày nay. Mạnh Tử đã tập hợp và ghi lại những cuộc biện luận của mình thành tập gọi là “bảy thiên” Mạnh Tử.
Mạnh Tử cùng với Luận ngữ, Đại học và Trung dung tập hợp thành bộ Tứ thƣ và cùng với Ngũ kinh ( gồm Kinh Thi, Kinh Thƣ, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch) đã trở 9 thành tài liệu chính thức của kinh điển Nho giáo. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trƣớc đời Tần). Khổng giáo hay là “tƣ tƣởng Khổng - Mạnh” từ đây mới hình thành nên hai khái niệm Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuât, nội dung của nó còn đƣợc gọi là Nho học.
Còn Nho giáo mang tính chất tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành đƣờng và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Đến đời Hán, Hán Vũ Đế đƣa Nho giáo lên làm quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nƣớc về tƣ tƣởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tƣ tƣởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt 2000 năm.
Nho giáo thời kỳ này còn đƣợc gọi là Hán Nho. Nhân vật nổi trội đó là Đổng Trọng Thƣ (179-104 TCN), ngƣời đƣợc coi là tập đại thành của Nho giáo. Ông đã bổ sung vào học thuyết Khổng - Mạnh phần nói về trời đất, quỷ thần, âm dƣơng, ngũ hành mà Khổng Tử, Mạnh Tử cố né tránh hoặc nói sơ qua.