phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, 9 tiết. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan niệm “Lễ” của Khổng Tử nói riêng có ảnh hưởng sâu rộng không những ở Trung Quốc mà còn truyền bá sang nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Chính vì điều này cũng đã xuất hiện nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm.
Các công trình nghiên cứu về tư tưởng của Khổng Tử và quan niệm “Lễ” của ông có thể kể đến: “Lịch sử văn minh Trung Hoa” của nhà sử học Will Durant, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội (dịch giả Nguyễn Hiến Lê), xuất bản năm 2004. Tác phẩm “Tứ Thư” bao gồm trọn bộ bốn tập, Nxb. Thuận Hóa (dịch giả Đoàn Trung Còn), xuất bản năm 2013.
“Lịch sử triết học phương Đông” của GS. Nguyễn Đăng Thục, Nxb từ điển Bách khoa, Hà Nội, xuất bản năm 2006. “Nho giáo Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hóa thông tin, năm 2005. Tác phẩm “Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Hiến Lê, Nxb.
Tác phẩm “Nho giáo xưa và nay” của tác giả Vũ Khiêu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1990…nhìn chung các công trình này đã trình bày và phân tích một cách sâu sắc tư tưởng của Khổng Tử cũng như quan niệm “Lễ” của ông. Các công trình nghiên cứu về đạo đức, nhân cách, lối sống con người Việt Nam như: Tác phẩm “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp” 4 của tác giả Nguyễn Duy Quý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2006. Tác phẩm “Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội” của tác giả Nguyễn Thanh, xuất bản năm 2007 do Nxb.
Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh phát hành. Tác phẩm “Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay” do Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên), Nxb Quân đội nhân dân, xuất bản năm 2008…nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã nêu lên vấn đề đạo đức con người Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Các công trình nghiên cứu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên nước ta như: Công trình “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” công bố ngày 26 tháng 8 năm 2005.
Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” do TS. Lê Văn Yên (chủ biên), xuất bản vào năm 2006, Nxb. Lao động, Hà Nội phát hành. Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Lan Minh với đề tài “Phạm trù lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay” bảo vệ năm 2012 tại Đại học quốc gia Hà Nội… Các công trình nghiên cứu nói trên đã đi sâu phân tích tư tưởng triết học cũng như quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.
Thông qua đó nêu lên thực trạng đạo đức học sinh cũng như đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm giáo dục đạo đức học sinh hiện nay. Để có cách nhìn toàn diện về quan niệm “Lễ” của Khổng Tử và vận dụng vào việc giáo dục đạo đức học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định, luận văn đã kế thừa và vận dụng sáng tạo các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị vừa nêu ở trên để đánh giá thực trạng đạo đức học sinh bậc THPT tại Bình Định, 5 đồng thời đưa ra một số giải pháp cũng như kiến nghị nhằm nâng cao đạo đức học sinh THPT tỉnh Bình Định trong thời gian tới. QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ 1. Cơ sở hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.
Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử. Các sử gia Trung Quốc dựa trên bộ Xuân Thu của Khổng Tử chia thời Đông Chu ra thành hai thời kỳ: Xuân Thu (722 – 479 TCN) và Chiến Quốc (479 – 221 TCN). Tuy nhiên, theo dịch giả Nguyễn Hiến Lê: “Lối phân chia đó không hợp lí, vì những năm 722 và 481 không đánh dấu một chuyển biến lớn lao nào trong lịch sử cả” [33, tr. Cho nên một số học giả đã phân chia thời Đông Chu thành hai thời kỳ: Thời Xuân Thu (770 – 403 TCN), có nghĩa là từ đời Chu Bình vương tới cuối đời Chu Uy Liệt vương; thời kỳ Chiến Quốc (403 – 221 TCN) từ đời Chu Ân vương đến khi Tần diệt Tề và thống nhất Trung Quốc.
Về kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế có bước chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Sự ra đời của công cụ lao động bằng sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực: Trong nông nghiệp phát triển mạnh, thể hiện thông qua phương pháp canh tác rất tiến bộ, người ta biết nấu sắt để chế tạo ra các công cụ bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi cuốc, dùng trâu, bò để kéo cày. Đồng thời còn biết bón phân, tưới nước, chia mùa vụ thành hai mùa dẫn đến năng suất lao động tăng cao, sản phẩm nông nghiệp ngày càng nhiều. Với sự ra đời của đồ sắt và những cải tiến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến những thay đổi trong quan hệ sản xuất.
Việc phân chia ruộng đất công theo định kỳ không còn căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa mà công xã giao đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời gian lâu dài, do đó nông dân có thể tự quyết định đến việc sản xuất dẫn đến năng suất lao động tăng cao. Mặt khác, một số người bình dân có công 7 trong chiến trận mà có quyền lực dựa vào đó để chiếm ruộng đất công thành ruộng tư; một số khác là thương buôn giàu có đã dành tiền để mua ruộng đất; những người nghèo khổ đã tập hợp lại với nhau để tiến hành khai thác đất đai và trở thành chủ sở hữu về ruộng đất… Xuất phát từ tình hình trên, một mặt, đã làm cho chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước được hình thành và được nhà nước thừa nhận. Mặt khác, đã hình thành trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ một giai cấp mới - giai cấp địa chủ. Giai cấp này vừa giàu có về kinh tế, vừa đòi hỏi về quyền lực chính trị.
Phương thức thu thuế trong nông nghiệp thời kỳ này cũng có sự thay đổi. Trước đây, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã được chia đều cho nông nô, nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để nộp lên triều đình. Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng sở hữu ruộng đất của nông dân không bằng nhau, nhà nước đã bãi bỏ hình thúc thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế mới, đánh thuế vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu). Cùng với sự phát triển nông nghiệp thì thủ công nghiệp cũng phát triển theo.
Trong thời kỳ này phải kể đến các ngành nghề thủ công như: nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm…vào cuối thời Xuân Thu, nước Ngô có lò luyện sắt với hơn 3000 thợ. Nước Tấn thu mua sắt để đúc đỉnh hình. Trong sách Chu lễ có viết về sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp như: thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần… Với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp cũng tạo điều kiện cho thương nghiệp ngày càng phát triển. Hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi động, sầm uất hơn trước.
Do yêu cầu của việc trao đổi, mua bán hàng hóa nên tiền tệ đã xuất hiện. Hoạt động thương nghiệp phát triển dẫn đến sự ra đời của 8 tầng lớp thương nhân giàu có như Huyền Cao nước Trịnh, Đoan Mộc Tứ (Tử Cống)…tầng lớp này thường kết giao với các bậc chư hầu, công khanh đại phu để tìm cách giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình chính trị lúc bấy giờ. Tuy nhiên, do tình hình xã hội rối ren, lãnh thổ chia cắt do bị nạn chư hầu cát cứ gây nên. Phương tiện giao thông thô sơ, đường sá đi lại khó khăn.
Do đó, chỉ có những người có mối quan hệ giao kết với quan lại, đầu óc sáng suốt, suy nghĩ thấu đáo thì công việc kinh doanh mới đem lại cho họ sự giàu có, đồng thời, trong quan niệm của người Trung Quốc luôn xem thường, khinh rẻ nghề buôn bán với tư duy “trọng nông, ức thương” hay “ nông bản, thương mạt”. Chính vì vậy, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời kỳ này chưa thực sự phát triển mạnh nhưng sự hình thành của thương nghiệp, đặc biệt là sự nổi lên của một bộ phận thương nhân giàu có đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới, đó là tiền thân của một bộ phận giai cấp địa chủ sau này. Về chính trị - xã hội: Theo quy luật chung của sự phát triển lịch sử xã hội trong một thời kỳ nhất định, sự biến đổi về mặt kinh tế trong thời kỳ Xuân Thu ở Trung Quốc sẽ kéo theo sự biến đổi về mặt chính trị trong thời kỳ này. Nếu như trong thời Tây Chu, chế độ tông pháp vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, ràng buộc huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được sự hưng thịnh trong một thời gian dài thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, mối quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên tử với chư hầu các nước trở nên lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được duy trì như trước.
Từ khi nhà Chu lên ngôi Thiên tử, thực hiện chế độ theo lối phong kiến, chia Trung Quốc thời bấy giờ tới hơn 70 nước, đồng thời nhà Chu phong cho những người công thần và các con cháu làm chư hầu. Những nước chư hầu này đều có quyền tự chủ, quyền tự quyết nhưng hàng năm phải cống nạp cho Thiên 9 tử nhà Chu, khi nhà Chu có việc quan trọng như chinh phạt ở đâu thì các nước chư hầu phải sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh Thiên tử nhà Chu đem quân đi tòng chinh.