CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI QUA TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI QUA TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ.1 Về gian lận. Theo từ điển tiếng Việt, “Gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khóe nhằm lừa gạt người khác”. Theo nghĩa rộng gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp.
Thông thường, gian lận phát sinh khi hội đủ các yếu tố sau[1]: - Một cá nhân hay tổ chức cố ý trình bày sai một yếu tố hay sự kiện quan trọng; - Việc trình bày sai này sẽ làm cho người bị hại tin vào đó (người bị hại có thể là cá nhân hay tổ chức). - Người bị hại dựa vào và ra các quyết định trên cơ sở sự trình bày sai này. - Người bị hại chịu các khoản lỗ về tiền, tài sản do việc dựa trên sự trình bày sai này. Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân hay cho tổ chức.
Có ba cách thông thường nhất để đối phó với gian lận: ngăn ngừa, phát hiện và trừng phạt. Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của người quản lý đơn vị thông qua việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Trần Thị Giang Tân (2009), “Gian lận trên báo cáo tài chính. Thực trạng và kiến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí phát triển kinh tế, trang 41 [17].
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Về gian lận thương mại. Theo tổng kết của Tổ chức Hải quan thế giới thì: “Gian lận thương mại là những hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm mục đích thu lợi bất chính thông qua các đối tượng hàng hóa, dịch vụ”. Chủ thể tham gia gian lận thương mại bao gồm: người mua, người bán, hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hóa. Gian lận thương mại là một hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ khi có sản xuất hàng hóa, các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua, người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hóa thì gian lận thương mại mới xuất hiện.
Hiện nay, chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh vì cạnh tranh là động cơ để phát triển. Nguyên nhân và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận. Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại phức tạp và tinh vi thể hiện ở các hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế… Như vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm thu được lợi nhuận không chính đáng. Có nhiều hình thức gian lận thương mại[2] như: - Gian lận thương mại qua xuất xứ: sử dụng xuất xứ được hưởng ưu đãi về thuế, về chính sách thương mại.
- Gian lận thương mại qua xác định mã số: xác định sai mã số của hàng hóa để được hưởng mức thuế suất ưu đãi. - Gian lận thương mại qua giá: xác định sai trị giá của hàng hóa để trốn thuế, để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. - Gian lận thương mại qua số lượng: khai báo sai số lượng hàng hóa thực tế xuất nhập khẩu để trốn thuế. Nguyễn Thị Thương Huyền (2009), Giáo trình trị giá HQ, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội [10] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -3- Trong số các hình thức gian lận thương mại nêu trên thì gian lận thương mại qua giá được xem là một điểm yếu của hệ thống quản lý Hải quan tại các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng.3 Về gian lận thương mại qua trị giá tính thuế trong lĩnh vực Hải quan.
Theo Hải quan thế giới: “Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp qui hoặc pháp luật Hải quan nhắm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tương đó hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính”. Trên cơ sở đó với thực tiễn ở Việt Nam, khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan được định nghĩa như sau: “Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi gian lận các luồng sản phẩm xuất nhập khẩu bằng cách lợi dụng sơ hở của luật pháp, chính sách và quản lý của các cơ quan Nhà nước để lẩn tránh việc kiểm tra kiểm soát của Hải quan nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước và thu lợi bất chính cho riêng mình” [3]. Đến đây, sau khi đề cập đến một số khái niệm liên quan đến gian lận thương mại, theo tác giả gian lận thương mại qua trị giá tính thuế[4] là hành vi khai báo gian dối giá trị thực của hàng hoá nhập khẩu nhằm trốn tránh những nghĩa vụ quy định (số thuế phải nộp) cho hàng hóa đó.2 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ THEO HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ GATT/WTO. Chống gian lận thương mại qua giá là vấn đề mang tính toàn cầu và rất phức tạp.
Là thành viên của WTO, để hòa nhập với nền kinh tế toàn cầu chúng ta đã mạnh dạn bãi bỏ việc áp dụng bảng giá tối thiểu và cam kết sẽ tuân thủ hoàn toàn Hiệp [3] TS. Đoàn Hồng Lê (2003), Chống Gian Lận Thương Mại, Tập Bài Giảng Lưu hành nội bộ, TCHQ [15] [4] Sau đây tác giả gọi tắt gian lận thương mại qua trị giá tính thuế là gian lận thương mại qua giá. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- định chung về thuế quan và thương mại, gọi tắt là trị giá GATT (General Agreement on Tariff and Trade) đây là một trong những nguyên tắc các quốc gia là thành viên WTO phải cam kết thực hiện. Việc xác định trị giá tính thuế trong lĩnh vực Hải quan[5] theo Hiệp định GATT là bước tiến vượt bậc của cơ quan Hải quan nói riêng và Nhà nước nói chung để minh bạch hóa việc tính thuế theo trị giá giao dịch và kiểm soát tình trạng gian lận thương mại qua giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Hiệp định bắt buộc phương pháp cơ bản để xác định trị giá tính thuế phải là trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu, đó là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của lô hàng đang được xác định trị giá. Khi không có giao dịch mua bán xảy ra, hay các điều kiện đặc biệt không được thỏa mãn thì người ta phải dịch chuyển sang sử dụng các phương pháp thay thế. Mỗi phương pháp trong số các phương pháp thay thế đó, đều độc lập với nhau và được áp dụng riêng, không kể đến kết quả so sánh với trị giá có thể được xác định thông qua một phương pháp xác định khác. Đối với công tác xác định trị giá tính thuế, các công chức Hải quan sử dụng Hiệp định trị giá GATT làm tài liệu căn cứ.
Các phương pháp sẽ được áp dụng một cách tuần tự và sẽ được dừng ngay ở phương pháp nào mà đã xác định được trị giá tính thuế, bao gồm 6 phương pháp (Chi tiết xem phụ lục số 4). - Trị giá giao dịch hàng nhập khẩu. - Trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu giống hệt. TRÌNH TỰ - Trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu tương tự.
ÁP DỤNG - Trị giá khấu trừ. - Trị giá tính toán. - Trị giá suy luận. Áp dụng xác định trị giá tính thuế theo GATT/WTO để xử lý hàng nhập khẩu công bằng hơn vì đây là hệ thống tính thuế ưu việt và mang tính minh bạch rõ ràng nhất hiện nay, là cơ sở lý luận tạo thuận lợi cho cơ quan Hải quan trong việc quản lý [5] Sau đây tác giả gọi tắt trị giá tính thuế trong lĩnh vực Hải quan là trị giá tính thuế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- doanh nghiệp đồng thời cũng tạo cho doanh nghiệp quyền lợi được khiếu nại và tố cáo khi không đồng tình với sự phán quyết của cơ quan Hải quan. Đây là một bước rất quan trọng nhằm tạo ra một hệ thống trị giá tính thuế đồng nhất với các nước trên thế giới, thuận lợi trong quá trình giao dịch, thúc đẩy thương mại quốc tế và loại trừ việc sử dụng các loại trị giá tính thuế tùy tiện, áp đặt gây sự xáo trộn không công bằng trên bình diện chung.3 MỘT SỐ HÌNH THỨC GIAN LẬN THƯƠNG MẠI QUA TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ KỂ TỪ KHI ÁP DỤNG HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ GATT/WTO.1 Một số hình thức gian lận thương mại qua trị giá tính thuế trên thế giới. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan, động cơ chủ yếu thúc đẩy các hành vi gian lận là do chủ hàng muốn thu lợi riêng cho bản thân mình, không muốn thực hiện nghĩa vụ với ngân sách. Qua tổng kết thực tiễn của các nước, Tổ chức Hải quan thế giới đã phân các loại hình gian lận về trị giá [6] như sau: - Loại thứ 1: Người bán (xuất khẩu) ghi giá hóa đơn thấp.
- Loại thứ 2: Người nhập khẩu cung cấp hóa đơn thương mại giá sai lệch. - Loại thứ 3: Người nhập khẩu làm sai lệch những tài liệu khác về trị giá. - Loại thứ 4: Người bán, người mua thông đồng cung cấp hóa đơn thương mại giá sai lệch. - Loại thứ 5: Sử dụng hai bộ hóa đơn thương mại.
- Loại thứ 6: Nộp cho cơ quan Hải quan hóa đơn thương mại của một phần trị giá thật của hàng hóa. - Loại thứ 7: Nộp cho cơ quan Hải quan những tài liệu giả nhằm giảm cước vận chuyển hàng hóa. Đoàn Hồng Lê (2003), Chống Gian Lận Thương Mại, Tập Bài Giảng Lưu hành nội bộ, Tổng Cục HQ [15] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- - Loại thứ 8: Khấu trừ những khoản tiền nhận được hoặc không phải trả phát sinh trong giao dịch thương mại. - Loại thứ 9: Mô tả sai hàng hóa để giảm trị giá tính thuế.
- Loại thứ 10: Khai tăng trị giá hàng nhập khẩu để tránh nộp thuế chống phá giá.