Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu có tiêu đề "Giảm nghèo hộ gia đình phi nông nghiệp ở nông thôn vùng Đông Nam Bộ" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Long, chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số 62310102), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Tấn Phát tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2023. Hội đồng đánh giá gồm các nhà khoa học: PGS. Nguyễn Văn Luân (Phản biện 1), PGS. Nguyễn Văn Trình (Phản biện 2), PGS. Đào Duy Huân (Phản biện 3 và Phản biện độc lập 1), cùng TS. Nguyễn Văn Sáng (Phản biện độc lập 2).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giảm nghèo là chủ trương xuyên suốt nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, giảm thiểu chênh lệch mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư và giữa thành thị với nông thôn. Tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hộ gia đình phi nông nghiệp ở nông thôn (PNNNT) có các đặc tính sinh kế khác biệt rõ rệt so với hộ nông nghiệp. Trong khi các hộ nông nghiệp có nguồn thu nhập tương đối ổn định từ trồng trọt, chăn nuôi (mặc dù chịu tác động bởi thời tiết và thị trường), thì hộ PNNNT chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong tổng số hộ ở nông thôn, nguồn thu phụ thuộc chính vào tiền lương, tiền công (thời vụ hoặc dài hạn) hoặc tự kinh doanh cá thể nhỏ lẻ. Rất ít hộ PNNNT làm chủ cơ sở sản xuất, công nghiệp hoặc xây dựng, dịch vụ quy mô lớn.
Theo luận điểm của Lanjouw và Feder (2001), khu vực kinh tế phi nông nghiệp nông thôn tại các nước đang phát triển chưa được nhận thức đầy đủ do tính chất hỗn hợp của các ngành nghề và sự thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm lẫn lý thuyết chuyên sâu. Về bối cảnh thực tiễn, sau hơn 30 năm Đổi mới, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 15,5% năm 2006 xuống 5,7% năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2020). Dù vậy, tỷ lệ nghèo khu vực nông thôn năm 2019 vẫn ở mức 8%, cao hơn nhiều so với khu vực thành thị (1,2%). Thành tựu giảm nghèo chưa thực sự bền vững khi nguy cơ tái nghèo còn cao do thiếu hụt an sinh xã hội, việc làm bấp bênh và rủi ro bệnh tật.
Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) là trung tâm kinh tế năng động, đóng góp lớn vào ngân sách và chiếm khoảng 18% dân số cả nước. Đây là vùng có tốc độ đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh, đi đầu trong công tác giảm nghèo với tỷ lệ hộ nghèo bình quân năm 2019 chỉ còn 0,5% (Tổng cục Thống kê, 2020). Dù vậy, nông thôn ĐNB vẫn tồn tại các vùng khó khăn về hạ tầng và có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ buộc một bộ phận dân cư nông thôn chuyển đổi sang khu vực phi nông nghiệp. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào nghèo nông thôn nói chung hoặc hộ nông dân thuần túy, bỏ ngỏ nhóm hộ PNNNT. Luận án lựa chọn đối tượng này dưới góc độ Kinh tế chính trị nhằm làm rõ vai trò của tư liệu sản xuất (TLSX) và sức lao động (SLĐ) trong việc giảm nghèo.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là trên cơ sở lý luận và thực trạng nghèo, đánh giá diễn biến giảm nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020, làm rõ vai trò của TLSX và SLĐ trong giảm nghèo, từ đó làm căn cứ đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho hộ PNNNT vùng ĐNB trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm bốn nội dung:
- Hệ thống cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo đối với hộ PNNNT;
- Khái quát bức tranh chung về việc làm, thu nhập và thực trạng nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020;
- Phân tích về diễn biến giảm nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020;
- Nhận diện ảnh hưởng của TLSX và SLĐ đến tình trạng nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết bốn câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Cơ sở nào để đánh giá nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020 như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Diễn biến giảm nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB giai đoạn 2002-2020 như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Vai trò của TLSX và SLĐ trong giảm nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB trong giai đoạn 2002-2020 là như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng nghèo và sự giảm nghèo của hộ PNNNT; các yếu tố TLSX và SLĐ ảnh hưởng đến giảm nghèo của hộ PNNNT. Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình tham gia Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) giai đoạn 2002-2020.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận nghèo theo hướng đơn chiều (tiền tệ: thu nhập và chi tiêu) và khung sinh kế bền vững. Hộ PNNNT được định nghĩa là hộ không tham gia vào bất kỳ hoạt động nông nghiệp nào (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp) và cư trú tại nông thôn, có thu nhập từ tiền lương, tiền công và các nguồn phi nông nghiệp khác. Quan hệ sản xuất được xem xét dưới góc độ quá trình tái sản xuất xã hội (tập trung vào tái sản xuất TLSX và tái sản xuất SLĐ). Các chỉ tiêu được tính toán mang tính đại diện ở cấp vùng ĐNB, không phân tách cấp tỉnh/thành phố.
- Phạm vi không gian: Gồm 6 tỉnh, thành phố trực thuộc vùng ĐNB: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tây Ninh.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng giai đoạn 2002-2020 (qua các kỳ VHLSS hai năm một lần vào các năm chẵn); dữ liệu chạy mô hình hồi quy kinh tế lượng sử dụng giai đoạn 2002-2016 (do dữ liệu VHLSS năm 2018 không đầy đủ các thông tin cần thiết cho mô hình). Các giải pháp được định hướng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án được phân chia theo ba nhóm chủ đề:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về chiến lược và chính sách giảm nghèo:
- Nghiên cứu quốc tế: de Janvry và cộng sự (2005) tại Châu Mỹ La tinh đề xuất chiến lược phát triển hạ tầng, phân cấp hoạt động kinh tế và phát triển các thị trấn trung gian nhằm lan tỏa động lực giảm nghèo. Orji (2005) đánh giá sự thất bại của các chương trình giảm nghèo tại Nigeria từ những năm 1970 do thiếu việc làm, mù chữ và quản lý tài chính công yếu kém. López và Valdés (2000) khảo sát con đường thoát nghèo tại Châu Mỹ La tinh thông qua việc tạo việc làm thâm dụng lao động trong ngành rau quả và chế biến nông sản.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Shanks và Turk (2003) nhấn mạnh việc tham vấn người nghèo tại địa phương khi lập kế hoạch; UNDP (2018) đánh giá chính sách giảm nghèo 2006-2015 trên năm khía cạnh quản trị và thiết kế chương trình; Thái Phúc Thành (2010) đề xuất vai trò điều phối của Chính phủ và đầu tư nông thôn; Bùi Sỹ Lợi (2011) kiến nghị chiến lược giảm nghèo toàn diện và phân cấp ngân sách; Phùng Đức Tùng và Nguyễn Việt Cường (2013) kiểm định tác động tích cực của chính sách tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Đức Thắng (2016) phân tích công tác triển khai chính sách tại vùng Tây Bắc; cùng các công trình của Trần Đình Đàn (2002), Nguyễn Thị Hoa (2010), Trần Ngọc Hiên (2011), Nguyễn Văn Hồi (2011), Nguyễn Thị Kim Ngân (2011), Nguyễn Thị Nhung (2012).
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về chiến lược sinh kế và đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp:
- de Janvry và cộng sự (2005) tại tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) chỉ ra rằng thiếu việc làm phi nông nghiệp khiến tỷ lệ và chiều sâu nghèo đói gia tăng nghiêm trọng.
- Beyene (2008) tại Ethiopia ứng dụng mô hình probit chứng minh quyết định tham gia phi nông nghiệp chịu ảnh hưởng từ vốn tín dụng và thu nhập chuyển nhượng.
- Idowu và cộng sự (2011) tại bang Ogun (Nigeria) khẳng định việc làm PNNNT đóng góp 28% vào tổng thu nhập hộ.
- Hoang và cộng sự (2014) sử dụng VHLSS giai đoạn 2002-2008 tại Việt Nam, phát hiện một thành viên hộ tham gia phi nông nghiệp giúp giảm 7% xác suất nghèo và tăng 14% chi tiêu hộ gia đình sau hai năm.
- Báo cáo của IFAD (2001), nghiên cứu của Isgut (2004) tại Honduras và Nakiyimba (2014) tại Uganda bổ sung các góc nhìn về tài sản sinh kế và tổ chức tài chính vi mô.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm và tình trạng nghèo:
- Về tư liệu sản xuất (TLSX): Berdegué và cộng sự (2001) tại Chile nhấn mạnh vai trò của vốn vật chất; Ibekwe và cộng sự (2010) tại Nigeria xem xét quy mô đất đai; Hossain (2004) dùng mô hình Tobit tại Bangladesh chứng minh thiết bị cơ khí (máy bơm, máy cày, giếng khoan) thúc đẩy việc làm phi nông nghiệp trong lĩnh vực bảo trì và sửa chữa; de Janvry và cộng sự (2005) chứng minh tác động phi tuyến của diện tích đất đến thu nhập phi nông nghiệp.
- Về sức lao động (SLĐ): Sanchez (2006) tại Bolivia, Escobal (2001) tại Peru, Reardon và cộng sự (2001) tại Châu Mỹ La tinh, Abdulai và Delgado (1999) tại Ghana, Canagarajah và cộng sự (2001) tại Uganda, Lanjouw và cộng sự (2001) tại Tanzania đều thống nhất khẳng định trình độ học vấn, độ tuổi, kỹ năng và giới tính chi phối khả năng tiếp cận việc làm phi nông nghiệp có thu nhập cao.
- Về hạ tầng và tài chính: Gibson và Olivia (2010) tại Indonesia chứng minh chất lượng đường sá và điện lưới thúc đẩy doanh nghiệp phi nông nghiệp; Bùi Thanh Giang (2012) dùng dữ liệu VHLSS 2008 chỉ ra hạ tầng và cơ hội thị trường tại chỗ có tác động tích cực đến thu nhập PNNNT; Oostendorp và cộng sự (2009) đánh giá vai trò của doanh nghiệp hộ tại Việt Nam giai đoạn 1993-2002; Quách Mạnh Hào (2005) lượng hóa tác động của tín dụng vi mô.
- Nghiên cứu tại vùng ĐNB: Trần Thị Sen (2020) nghiên cứu nghèo đa chiều qua VHLSS 2018 với 5 nhóm nguồn vốn; Nguyễn Hồng Thu (2018) khảo sát 600 hộ nghèo ĐNB qua mô hình Logistic, khẳng định quy mô vốn vay vi mô và quy mô lao động làm tăng thu nhập hộ.
Khoảng trống nghiên cứu
Qua đánh giá tổng quan, tác giả xác định ba khoảng trống học thuật:
- Đa phần các nghiên cứu trước đây xem xét giảm nghèo ở khu vực nông thôn nói chung hoặc tập trung vào đối tượng hộ nông dân; hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hộ PNNNT như một chủ thể kinh tế - xã hội độc lập với các đặc thù sinh kế riêng biệt.
- Dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị, các nghiên cứu chưa làm rõ sự tác động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đến tình trạng nghèo của hộ PNNNT, cụ thể là chưa phân tích vai trò của quá trình tái sản xuất TLSX và tái sản xuất SLĐ trong tương quan với các đặc điểm hộ gia đình.
- Đối với địa bàn vùng ĐNB - một vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ chuyển dịch cơ cấu và đô thị hóa cao - chưa có công trình nào sử dụng dữ liệu bảng dài hạn để lượng hóa mức độ tác động của TLSX và SLĐ đến xác suất nghèo của hộ PNNNT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các hệ thống lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm về hộ gia đình: Kế thừa các định nghĩa từ Liên Hợp Quốc, Từ điển Webster (1990), Raul (1989) (dẫn qua Nguyễn Thị Hằng, 1997), xác định hộ là tập hợp những người cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung ngân quỹ, cùng ăn chung và cùng tiến hành sản xuất chung.
- Khái niệm hộ PNNNT: Căn cứ định nghĩa của Reardon và cộng sự (2001), hộ PNNNT là hộ cư trú ở khu vực nông thôn nhưng toàn bộ thành viên trong độ tuổi lao động không tham gia vào hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản); thu nhập hình thành từ tiền lương, tiền công hoặc tự sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
- Lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Luận án áp dụng lý thuyết hàng hóa sức lao động, giá trị sức lao động, tiền lương và tiền công của C. Mác; lý luận về quá trình tái sản xuất xã hội gồm các khâu sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng. Luận án khu biệt nghiên cứu vào quá trình tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động của hộ PNNNT.
- Khung sinh kế bền vững (DFID): Tiếp cận các nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, vật chất, con người, tài chính, xã hội) và lý thuyết về hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn.
- Chuẩn nghèo: Khảo cứu các tiêu chí nhận diện nghèo của Việt Nam (chuẩn nghèo thu nhập giai đoạn 1994-2014 và giai đoạn 2016-2020) cùng chuẩn nghèo theo chi tiêu của Ngân hàng Thế giới (WB).
Khung phân tích của luận án (Hình 1.1) kết nối bốn nhóm nội dung: (1) Nguồn lực sinh kế - sản xuất; (2) Các yếu tố TLSX và SLĐ; (3) Việc làm và thu nhập; (4) Thực trạng nghèo và giảm nghèo của hộ PNNNT.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp luận Kinh tế chính trị với các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp luận: Áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học theo chỉ dẫn của C. Mác trong tác phẩm Tư bản (sử dụng sức mạnh trừu tượng hóa thay cho kính hiển vi hay phản ứng hóa học) và phép biện chứng duy vật.
- Phương pháp định tính:
- Phương pháp lịch sử - lôgíc: Phân tích quá trình vận động giảm nghèo của hộ PNNNT vùng ĐNB theo trình tự thời gian 2002-2020 để phát hiện tính quy luật.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 5-7 chuyên gia, nhà khoa học am hiểu về kinh tế nông thôn, giảm nghèo và kinh tế lượng theo hai nội dung: (i) nhận định thực trạng, cơ hội, khó khăn và giải pháp giảm nghèo hộ PNNNT vùng ĐNB; (ii) tham vấn hoàn thiện mô hình kinh tế lượng, lựa chọn biến số và kiểm tra tính phù hợp của các giả thuyết hồi quy.
- Phương pháp định lượng:
- Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích các chiều cạnh nhân khẩu, việc làm, thu nhập, chi tiêu, điều kiện nhà ở và tài sản lâu bền của hộ PNNNT qua các kỳ điều tra.
- Phương pháp hồi quy kinh tế lượng: Thiết lập mô hình xác suất probit có biến phụ thuộc nhị phân $P_i$ (nhận giá trị 1 nếu hộ nghèo, 0 nếu không nghèo) tại các năm khảo sát:
$$P_i = f(CG_i, LB_i, HH_i, FIN_i, u_i)$$
Trong đó:
- $i$: Hộ PNNNT quan sát;
- $P$: Tình trạng nghèo của hộ;
- $CG$: Nhóm biến tư liệu sản xuất của hộ;
- $LB$: Nhóm biến sức lao động của hộ;
- $HH$: Nhóm biến kiểm soát đặc điểm của hộ và chủ hộ (tuổi, giới tính, học vấn, quy mô nhân khẩu, tỷ lệ lao động, tỷ lệ thành viên theo độ tuổi);
- $FIN$: Nhóm biến tiếp cận thể chế tài chính nông thôn (vay vốn, nhận chuyển nhượng, tiết kiệm);
- $u_i$: Sai số ngẫu nhiên.
Kỹ thuật ước lượng: Sử dụng kỹ thuật hồi quy gộp OLS (Pooled OLS) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM - Random-effects model) trên bộ dữ liệu bảng không cân bằng (unbalanced panel data), đồng thời kiểm định thông qua mô hình biến giả bình phương nhỏ nhất (LSDV).
Nguồn số liệu và công cụ xử lý
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê các tỉnh, thành phố vùng ĐNB.
- Nguồn dữ liệu vi mô chính: Bộ dữ liệu Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014, 2016, 2018 và 2020. Dữ liệu hồi quy thực nghiệm trích xuất cho vùng ĐNB giai đoạn 2002-2016.
- Công cụ phần mềm: Stata 15.
| Thành phần nghiên cứu |
Mô tả chi tiết trong luận án |
| Hệ phương pháp |
Kết hợp trừu tượng hóa khoa học, duy vật biện chứng, thống kê mô tả và kinh tế lượng |
| Kỹ thuật mô hình |
Mô hình xác suất probit (ước lượng Pooled OLS và REM cho dữ liệu bảng không cân bằng) |
| Công cụ xử lý |
Phần mềm Stata 15 |
| Nguồn dữ liệu chính |
Dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) từ Tổng cục Thống kê |
| Thời gian khảo sát |
Toàn bộ dữ liệu mô tả: 2002-2020; Mô hình hồi quy thực nghiệm: 2002-2016 |
| Không gian nghiên cứu |
6 địa phương vùng ĐNB (TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh) |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến giảm nghèo của hộ PNNNT, phân loại theo ba nhóm nội dung: chính sách giảm nghèo; thu nhập và việc làm phi nông nghiệp; các yếu tố chi phối tình trạng nghèo. Tác giả đánh giá tổng thể những thành tựu của các học giả đi trước, chỉ ra hai điểm hạn chế chính: chưa coi hộ PNNNT là một đối tượng độc lập và thiếu khung tiếp cận Kinh tế chính trị về TLSX và SLĐ tại vùng ĐNB. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng Khung phân tích (Hình 1.1) gồm 4 nhóm nội dung và Quy trình nghiên cứu (Hình 1.2) gồm 4 hoạt động tuần tự nhằm giải quyết các mục tiêu đề ra.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH PHI NÔNG NGHIỆP Ở NÔNG THÔN
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm nền tảng: phân loại hộ nông nghiệp và hộ PNNNT (Bảng 2.1), khái niệm thu nhập và nghèo của hộ PNNNT. Tác giả trình bày ba khối lý thuyết chính:
- Lý thuyết Kinh tế chính trị của C. Mác về hàng hóa sức lao động, giá trị của sức lao động, tiền lương và tiền công; quy luật tái sản xuất và phân phối (tái sản xuất tư liệu sản xuất và tái sản xuất sức lao động).
- Lý thuyết hoạt động kinh tế và thu nhập phi nông nghiệp ở nông thôn.
- Lý thuyết khung sinh kế hộ ở nông thôn và vai trò của các chính sách giảm nghèo.
Chương này cũng phân tích các tiêu chí và chuẩn nghèo được áp dụng tại Việt Nam qua các giai đoạn, bao gồm chuẩn nghèo thu nhập 1994-2014 (Bảng 2.2), chuẩn nghèo chi tiêu của WB (Bảng 2.3), chuẩn nghèo thu nhập 2016-2020 (Bảng 2.4), từ đó thiết lập Khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài (Hình 2.1).
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI HỘ PHI NÔNG NGHIỆP Ở NÔNG THÔN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2002-2020
Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm và thực chứng của luận án:
- Tổng quan bối cảnh kinh tế - xã hội vùng ĐNB: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 2015-2020 (Bảng 3.1), biến động thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người 2002-2020 (Bảng 3.2), hệ số GINI phản ánh bất bình đẳng giai đoạn 2010-2020 (Bảng 3.3), tỷ lệ hộ nghèo phân theo vùng giai đoạn 2010-2020 (Bảng 3.4), cùng tương quan tăng trưởng của vùng so với cả nước (Hình 3.1).
- Bức tranh thực trạng hộ PNNNT vùng ĐNB: Tỷ lệ và phân bổ hộ PNNNT theo tỉnh (Bảng 3.5, Bảng 3.6); điều kiện vật chất qua các chỉ tiêu tình trạng nhà ở, quyền sở hữu nhà, nguồn nước uống và nhà vệ sinh (Bảng 3.7 đến Bảng 3.10).
- Nguồn lực sinh kế và việc làm: Trình độ học vấn của thành viên, đặc điểm nhân khẩu, tỷ lệ sở hữu tài sản lâu bền và phân bổ vốn tài chính phân chia theo ba nhóm thu nhập (Bảng 3.11 đến Bảng 3.15); cơ cấu việc làm của cá nhân (Bảng 3.16); thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người theo tỉnh và nguồn thu (Bảng 3.17 đến Bảng 3.21).
- Động thái nghèo và giảm nghèo: Tỷ lệ nghèo chung của hộ PNNNT ĐNB giai đoạn 2002-2020 (Bảng 3.22); phân tích giảm nghèo theo sở hữu TLSX (Bảng 3.23), theo chất lượng SLĐ (Bảng 3.24), theo tiếp cận tài chính (Bảng 3.25), đặc điểm chủ hộ và thành viên tham gia việc làm phi nông nghiệp (Bảng 3.26 đến Bảng 3.29).
- Phân tích thực chứng mô hình kinh tế lượng (2002-2016): Tổng hợp các biến số nghiên cứu (Bảng 3.30 đến Bảng 3.36) và xây dựng mô hình tác động của TLSX và SLĐ (Hình 3.2). Kết quả ước lượng mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) bằng Stata 15 (Bảng 3.37) lượng hóa mức độ ảnh hưởng của vốn sản xuất, trình độ học vấn, kinh nghiệm của sức lao động và khả năng tiếp cận vốn tín dụng đến tình trạng nghèo của hộ.
- Đánh giá tồn tại: Phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo ở nhóm hộ PNNNT, bao gồm sự thiếu hụt tư liệu sản xuất cần thiết, tay nghề và trình độ học vấn của lao động còn thấp, sự bấp bênh của việc làm phi nông nghiệp giản đơn.
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI HỘ PHI NÔNG NGHIỆP Ở NÔNG THÔN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp dựa trên kết quả phân tích:
- Phân tích bối cảnh mới: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế số, công nghệ cao, biến đổi khí hậu; nhận diện cơ hội và thách thức đối với giảm nghèo hộ PNNNT vùng ĐNB.
- Xác định mục tiêu và quan điểm: Mục tiêu giảm nghèo đối với hộ PNNNT ĐNB đến năm 2030; quan điểm phát triển vùng ĐNB đến năm 2030; đường lối giảm nghèo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ; định hướng giảm nghèo bền vững của vùng.
- Nhóm giải pháp cụ thể:
- Giải pháp về tư liệu sản xuất: Tạo điều kiện cho hộ tiếp cận vốn vật chất, công cụ sản xuất, mặt bằng kinh doanh phi nông nghiệp và tư liệu sản xuất phục vụ chuyển đổi nghề.
- Giải pháp về sức lao động: Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu các khu công nghiệp, nâng cao học vấn, phát triển kỹ năng lao động kỹ thuật, cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế và an sinh xã hội để bảo đảm tái sản xuất sức lao động.
- Giải pháp về tiếp cận tài chính: Đổi mới chính sách tín dụng vi mô, tạo kênh vốn vay ưu đãi phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
- Giải pháp về cơ sở hạ tầng và thị trường: Tăng cường kết nối hạ tầng giao thông nông thôn - đô thị, mở rộng thị trường việc làm tại địa phương.
Các giải pháp được phân định theo trách nhiệm thực thi của Chính phủ, chính quyền 6 tỉnh/thành phố vùng ĐNB và sự chủ động của bản thân hộ PNNNT.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về giảm nghèo đối với hộ PNNNT dưới giác độ Kinh tế chính trị: Luận án đã tích hợp khung lý luận của C. Mác về tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất tư liệu sản xuất với khung sinh kế bền vững (DFID) để giải thích cơ chế thoát nghèo của một nhóm chủ thể kinh tế đặc thù ở nông thôn.
- Xây dựng khung phân tích thực chứng đánh giá tác động đồng thời của các yếu tố lực lượng sản xuất (TLSX và SLĐ) và thể chế tài chính nông thôn đến xác suất nghèo của hộ PNNNT, tạo tiền đề lý thuyết cho việc phân loại và nghiên cứu nghèo phi nông nghiệp.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh dữ liệu tổng thể và dài hạn (2002-2020) về điều kiện sống, nhà ở, việc làm, thu nhập và biến động nghèo của hộ PNNNT tại 6 địa phương thuộc vùng Đông Nam Bộ dựa trên nguồn số liệu VHLSS.
- Luận án ứng dụng mô hình xác suất probit (với các kỹ thuật ước lượng Pooled OLS và REM cho dữ liệu bảng không cân bằng trên phần mềm Stata 15), lượng hóa rõ vai trò của TLSX, các thuộc tính của SLĐ (học vấn, độ tuổi) và khả năng tiếp cận tài chính đối với việc giảm xác suất rơi vào tình trạng nghèo của hộ PNNNT trong giai đoạn 2002-2016.
- Luận án đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu đến năm 2030 và các nhóm giải pháp can thiệp trực diện vào việc gia tăng tư liệu sản xuất và nâng cao chất lượng sức lao động, cung cấp luận cứ cho các cơ quan quản lý và chính quyền địa phương vùng ĐNB trong việc xây dựng chính sách giảm nghèo bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
Căn cứ vào nội dung văn bản luận án, các hạn chế bao gồm:
- Về phạm vi dữ liệu mô hình: Bộ dữ liệu điều tra mức sống dân cư (VHLSS) năm 2018 bị khuyết thiếu một số thông tin cần thiết, do đó mô hình hồi quy kinh tế lượng chỉ thực hiện được cho giai đoạn 2002-2016, chưa bao phủ toàn vẹn đến năm 2020 như phần thống kê mô tả.
- Về cấp độ đại diện dữ liệu: Do thiết kế mẫu của bộ dữ liệu VHLSS chỉ đảm bảo tính đại diện ở cấp vùng, luận án chỉ tính toán và phân tích các mô hình kinh tế lượng ở cấp độ vùng Đông Nam Bộ, không thể ước lượng và phân tích mô hình hồi quy riêng biệt cho từng tỉnh, thành phố.
- Về phạm vi tiếp cận nghèo: Luận án tiếp cận vấn đề nghèo theo hướng đơn chiều dựa trên tiêu chí tiền tệ (thu nhập và chi tiêu), chưa tích hợp đầy đủ các chiều đo lường nghèo đa chiều theo các chuẩn mới.
- Về quan hệ sản xuất: Do phần lớn lao động hộ nghèo PNNNT làm công ăn lương hoặc tự làm nhỏ lẻ, các khía cạnh về quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức quản lý nội bộ chưa được khai thác sâu mà chủ yếu tập trung vào khâu phân phối và tái sản xuất yếu tố sản xuất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phân tích nghèo theo phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều nhằm phản ánh toàn diện các thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản của hộ PNNNT.
- Bổ sung và cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2016 khi có các cuộc điều tra tiếp theo đáp ứng đủ các biến số của mô hình.
- Tiến hành các khảo sát chuyên sâu tại từng địa phương nhằm đánh giá sự khác biệt cấp tỉnh trong bối cảnh công nghiệp hóa vùng ĐNB.
Giá trị tham khảo
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý công.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về an sinh xã hội và giảm nghèo: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân và các Sở, ngành của 6 tỉnh, thành phố vùng ĐNB (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh).
- Các tổ chức phát triển nông thôn và tổ chức tài chính vi mô hoạt động tại khu vực phía Nam.
Nội dung có giá trị tham khảo cao
- Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu kết hợp giữa Kinh tế chính trị học Mác - Lênin với các kỹ thuật kinh tế lượng hiện đại áp dụng cho dữ liệu bảng.
- Hệ thống số liệu thống kê mô tả chi tiết từ Bảng 3.5 đến Bảng 3.29 phản ánh diễn biến 20 năm về sinh kế, tài sản lâu bền, điều kiện vệ sinh, nhà ở và thu nhập của nhóm hộ PNNNT vùng ĐNB.
- Quy trình khảo sát và thu thập ý kiến chuyên gia (Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3) phục vụ kiểm định mô hình định lượng.
Câu hỏi thường gặp
1. Hộ gia đình phi nông nghiệp ở nông thôn (PNNNT) được xác định như thế nào trong luận án?
Theo luận án, hộ PNNNT là hộ gia đình cư trú tại khu vực nông thôn và không tham gia vào bất kỳ hoạt động sản xuất nông nghiệp nào (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp). Nguồn thu nhập của hộ được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập phi nông nghiệp khác (tự kinh doanh, dịch vụ cá thể).
2. Luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng nào và các kỹ thuật ước lượng gì?
Luận án sử dụng mô hình xác suất probit có biến phụ thuộc nhị phân thể hiện tình trạng nghèo của hộ ($P_i = 1$ nếu nghèo, $P_i = 0$ nếu không nghèo). Phương trình hàm số có dạng:
$$P_i = f(CG_i, LB_i, HH_i, FIN_i, u_i)$$
Tác giả sử dụng hai kỹ thuật ước lượng chính trên dữ liệu bảng không cân bằng: mô hình hồi quy gộp OLS có hệ số không thay đổi (Pooled OLS) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM - Random-effects model), được xử lý trên phần mềm Stata 15.
3. Vì sao mô hình hồi quy chỉ phân tích giai đoạn 2002-2016 trong khi số liệu mô tả kéo dài đến năm 2020?
Luận án sử dụng chuỗi số liệu VHLSS kéo dài 2002-2020 cho các phân tích thống kê mô tả để có bức tranh dài hạn. Tuy nhiên, ở bước ước lượng kinh tế lượng, cuộc điều tra VHLSS năm 2018 không thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết phục vụ cho việc đo lường các biến số trong mô hình đã thiết lập, do đó tác giả giới hạn phạm vi ước lượng thực chứng trong giai đoạn 2002-2016 để đảm bảo tính đồng nhất của số liệu.
4. Luận án bao quát các địa phương nào và tại sao không ước lượng mô hình cho từng tỉnh?
Phạm vi không gian gồm 6 địa phương thuộc vùng Đông Nam Bộ: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tây Ninh. Luận án không ước lượng mô hình kinh tế lượng riêng cho từng tỉnh/thành phố do thiết kế mẫu của bộ dữ liệu VHLSS chỉ đạt độ tin cậy và tính đại diện ở cấp độ vùng kinh tế, việc chia nhỏ mẫu xuống cấp tỉnh sẽ làm mất tính đại diện thống kê của dữ liệu.
5. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia trong luận án được tổ chức ra sao?
Tác giả thực hiện hai đợt khảo sát ý kiến với nhóm 5-7 chuyên gia, nhà khoa học am hiểu về kinh tế nông thôn, giảm nghèo và phương pháp hồi quy xác suất probit dữ liệu bảng. Đợt 1 dùng bảng hỏi nhằm khám phá thực trạng, cơ hội, khó khăn và giải pháp giảm nghèo. Đợt 2 lấy ý kiến trực tiếp bằng văn bản để thẩm định tính phù hợp của các giả thuyết, lựa chọn dạng mô hình kinh tế lượng và loại bỏ các biến số không phù hợp trước khi ước lượng chính thức.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thanh Long là công trình học thuật chuyên ngành Kinh tế chính trị khảo cứu về nghèo và giảm nghèo của hộ gia đình phi nông nghiệp ở nông thôn vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2002-2020. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, trừu tượng hóa khoa học với mô hình probit trên dữ liệu bảng VHLSS xử lý qua Stata 15, tác giả đã làm rõ thực trạng sinh kế và vai trò của tư liệu sản xuất, sức lao động và tiếp cận tài chính đối với việc giảm nghèo của nhóm hộ này. Các kết quả phân tích cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sinh kế phi nông nghiệp và giảm nghèo bền vững cho vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030.