CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CTCK: 1.1 Khái quát về xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK: 1.1 Khái niệm xung đột lợi ích: “Xung đột lợi ích” (Conflict of interest) là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các bài viết học thuật cũng như các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị hay pháp lý liên quan đến các dịch vụ công, tài chính – ngân hàng, quản lý nhà nước hay quản trị doanh nghiệp. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu thường tiếp cận khái niệm xung đột lợi ích dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát thành hai hướng tiếp cận phổ biến sau đây: Cách tiếp cận thứ nhất định nghĩa vấn đề xung đột lợi ích dựa trên phương pháp phân tích từ. Theo đó, Xung đột lợi ích được mô tả là hiện tượng có hai hay nhiều lợi ích cùng tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và các lợi ích này đối lập, chống đối nhau. Theo tác giả Christopher M.
Gorman4 xung đột lợi ích là “một tình huống mà lợi ích cá nhân của một người có thể xung đột với trách nhiệm thụ ủy của người đó với một người khác; hoặc một tình huống mà có tồn tại khả năng xung đột giữa trách nhiệm thụ ủy của một người đối với hai hay nhiều người khác nhau.” 5 Theo tác giả Hồ Bá Thâm, “Xung đột lợi ích xảy ra khi các bên tranh chấp về lợi ích mà một bên bị thiệt hại từ bên kia và khả năng khó hay không thể hòa giải, điều hòa được trong một thời điểm nào đó. Nói ngắn gọn: Xung đột lợi ích là sự tranh chấp quyết liệt lợi ích (quyền lợi nói chung).”6 Cách định nghĩa dựa trên phương pháp phân tích từ giúp cho người đọc có thể hình dung vấn đề xung đột lợi ích một cách trực tiếp bằng việc đưa ra hai đặc điểm thuộc về bản chất của hiện tượng. Theo đó, để xác định một tình huống là xung đột lợi ích, chỉ cần chứng minh được hai đặc điểm, một là sự tồn tại nhiều lợi ích và hai là xác định tính chất đối chọi, mâu thuẫn của các lợi ích này. Tuy nhiên, vì lợi ích là vấn đề thuộc về mặt ý chí của các chủ thể, là một yếu tố chủ quan và rất khó xác định nếu không liên kết nó với những hiện tượng cụ thể, bản chất của xung đột lợi ích lại tồn tại trong sự bất cân xứng thông tin7 nên việc nhận diện xung đột lợi ích theo hướng tiếp cận này thường rất khó thực hiện.
Cách định nghĩa này đề cập đến xung đột lợi ích một cách 4 JD., Candidate, Fordham University School of Law, May 2004; B., summa cum laude, Finance, Providence College, May 2001. Gorman, Fordham journal of corporate & finalcial law, vol. Hồ Bá Thâm (2011), “Mâu thuẫn, xung đột lợi ích nhóm – thực trạng và giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, tr.
7 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Nguyễn Văn Vân (2010), “Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán”, Tạp chí khoa học pháp lý, (2-57), tr.) 4 đơn thuần mà không quan tâm nhiều đến các hệ quả của xung đột lợi ích nên thường được sử dụng trong các nghiên cứu mang tính chất lý luận trong lĩnh vực quản lý công, các nghiên cứu hướng đến mục tiêu vĩ mô mà không quan tâm nhiều đến việc xây dựng cơ chế nhận diện để phòng ngừa đối với các xung đột lợi ích như là một hiện tượng mang tính chất nguy cơ. Đối với các nghiên cứu mang tính chất ứng dụng, hướng đến cả mục tiêu nhận diện và giải quyết vấn đề, các nhà khoa học thường sử dụng một cách định nghĩa khác đó là cách định nghĩa dựa trên phương pháp dùng từ bao hàm. Theo đó, “xung đột lợi ích” được hiểu là “một tình huống có thể làm suy giảm đạo đức của con người bởi lợi ích của chính họ hoặc lợi ích chung; một tình huống xảy ra khi các bên từ bỏ trách nhiệm đối với bên thứ ba”8.
Theo nhóm các tác giả Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, và Eugene N. White, “Xung đột lợi ích là một tình huống phát sinh khi các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có nhiều lợi ích, các lợi ích này tạo ra động lực để họ thực hiện các hành vi sai trái hoặc che giấu những thông tin cần thiết cho sự hoạt động hiệu quả của thị trường”9. Cách tiếp cận này gần như không đề cập đến lợi ích thứ hai trong mối quan hệ xung đột với lợi ích thứ nhất như ở cách tiếp cận đầu tiên mà xung đột lợi ích được định nghĩa bằng cách khái quát từ các hiện tượng là nguyên nhân và hệ quả trực tiếp của tình huống xung đột lợi ích cũng như của hành vi khai thác xung đột trên thực tế.
Xung đột lợi ích được hiểu là một hiện tượng có nguy cơ làm tăng các tình huống khó xử về đạo đức đối với các chủ thể tham gia vào thị trường bằng cách tạo ra các động lực để các chủ thể đó che giấu hoặc cung cấp thông tin sai lệch, làm ảnh hưởng đến khách hàng mà họ có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích.10 Cách định nghĩa này tạo ra một cơ chế nhận diện xung đột lợi ích đơn giản (thông qua việc nhận diện các hiện tượng làm phát sinh xung đột lợi ích hoặc các hiện tượng là hệ quả của xung đột lợi ích), đồng thời nhận diện vấn đề xung đột lợi ích một cách bao quát hơn (gồm cả xung đột lợi ích tiềm tàng và xung đột lợi ích thực tế) nên có tính ứng dụng cao hơn và thường được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực kinh tế, pháp lý – nơi mà việc nhận diện để giải quyết vấn đề xung đột lợi ích được quan tâm nhiều hơn là nghiên cứu bản chất của nó như thế nào. Với mục đích nghiên cứu chủ yếu là giải quyết vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK, trong đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ tiếp cận khái niệm xung đột lợi ích chủ yếu theo hướng tiếp cận thứ hai. 8 “Conflict of interest is: 1. a situation that can undermine a person due to self interest and public interest.
a situation when parties discharge responsibility to a third party. A, “Black’s Law Dictionary” (Revised fourth edition), St. West publishing co. 157) 9 Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S.
Mishkin, and Eugene White (2004), “Conflicts of Interest in the Financial Services Industry: What Should We Do About Them?”, Geneva Reports on the World Economy, pp. 10 Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tldd, pp 5.2 Phân loại các xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK: Xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK là xung đột lợi ích theo nghĩa rộng, nó bao gồm xung đột lợi ích tồn tại trong hai mối quan hệ gắn liền với hoạt động của CTCK: (i) một là xung đột lợi ích phát sinh trong hoạt động kinh doanh với nhà đầu tư là khách hàng của CTCK và (ii) hai là xung đột lợi ích trong quá trình quản trị nội bộ của công ty.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ không đi sâu nghiên cứu các xung đột lợi ích liên quan đến quá trình quản trị nội bộ của CTCK mà chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh liên quan đến mối quan hệ giữa CTCK với nhà đầu tư là khách hàng của CTCK. Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân chia các xung đột lợi ích thuộc về nhóm này. Tùy theo hướng tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà các tiêu chí phân loại này đều có những ý nghĩa khoa học nhất định: Dựa vào mức độ của xung đột, có thể phân loại xung đột lợi ích thành xung đột lợi ích ngắn hạn (xung đột lợi ích thực tế) và xung đột lợi ích trong dài hạn (xung đột lợi ích tiềm tàng). Xung đột lợi ích ngắn hạn xảy ra khi cá nhân hoặc tổ chức hành động đi ngược với lợi ích của khách hàng mà cá nhân hay tổ chức đó đã cam kết phục vụ, nó biểu hiện thông qua những hành vi vi phạm nghĩa vụ cụ thể của CTCK trên thực tế nên còn gọi là xung đột lợi ích thực tế.
Xung đột lợi ích trong dài hạn là xung đột lợi ích được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Mặc dù về bản chất thì xung đột lợi ích trong dài hạn suy cho cùng cũng là những tình huống mà xung đột lợi ích ngắn hạn có thể xảy ra nhưng nó lại không gắn liền với các hành vi vi phạm cụ thể mà là những tình huống tồn tại dưới dạng nguy cơ chung đối với sự phát triển của toàn bộ TTCK nên còn được gọi là xung đột lợi ích tiềm tàng. Nếu như xung đột lợi ích trong ngắn hạn dẫn đến những hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm đối với khách hàng thì xung đột lợi ích trong dài hạn thường dẫn tới hành vi phi đạo đức, tốt nhất là nên tránh nhưng trong những tình huống nhất định, xung đột lợi ích này là đặc điểm không thể tránh khỏi. Dựa vào chủ thể lợi ích, có thể phân thành xung đột lợi ích cá nhân và xung đột lợi ích tổ chức.
Các cá nhân cũng như các tổ chức có thể thực hiện cả vai trò đại diện và vai trò của người được ủy thác, khi đó, tổ chức có thể không phục vụ tốt lợi ích của người ủy quyền hay người ủy thác mặc dù không có cá nhân nào có lỗi. Ví dụ như khi bộ phận quản lý tài khoản ủy thác của một CTCK thuộc một NHTM biết rằng một công ty - khách hàng của NHTM có vấn đề về tài chính thì họ vẫn phải tuân theo theo nguyên tắc bảo mật thông tin về khách hàng. Tuy nhiên việc bảo mật thông tin lại làm bất lợi cho chủ thể ủy thác quản lý tài khoản liên quan đến hoạt động của CTCK11.s Đặng Tài An Trang (2011), “Kiềm chế xung đột lợi ích trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (156 - 10/2011), tr.