Chương 1: Lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam; - Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án ở Việt Nam hiện nay; - Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam; - Kết luận; - Danh mục tài liệu tham khảo. CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về tranh chấp thƣơng mại và giải quyết tranh chấp thƣơng mại 1. Tranh chấp thương mại Trong mỗi quốc gia, hoạt động kinh doanh, thương mại luôn tồn tại và phát triển trong đời sống xã hội, đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi khu vực và quốc tế.
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế có liên quan chặt chẽ đến tự do hóa thương mại. Đây là quá trình giảm bớt sự can thiệp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang tính chất bảo hộ của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh, thương mại, theo đó vai trò của Nhà nước chỉ nên giới hạn ở việc tạo ra môi trường phù hợp cho các quan hệ thương mại [64, tr. Nhìn nhận tổng quát, lịch sử thương mại gắn với lịch sử quan hệ giữa các dân tộc. Những bước suy thoái, những cuộc thăng trầm tạo nên biết bao sự kiện lớn trong lịch sử thương mại thế giới [69, tr.
Trong thế kỷ XX, thương mại quốc tế đã phát triển rất mạnh mẽ. Kết quả là các quốc gia vốn trước đây rất biệt lập về kinh tế đã ngày càng trở nên gắn bó với nhau, p hụ thuộc lẫn nhau, do những luồng hàng hóa, dịch vụ trao đổi ngày càng tăng cao. Sự gia tăng này là yếu tố cơ bản quyết định xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay [64, tr. Ở Việt Nam, gần hai thập niên đổi mới vừa qua, hoạt động kinh doanh, thương mại đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế [62].
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các hoạt động kinh doanh, thương mại, những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng phát sinh do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Hoạt động kinh doanh, thương mại có đặc điểm cơ bản là gắn liền với yếu tố lợi nhuận. Do vậy, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng có những khác biệt so với các loại tranh chấp khác trong đời sống xã hội (như tranh chấp dân sự chẳng hạn) và yêu cầu giải quyết những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng có những điểm đặc thù. Vậy, TCTM cần được hiểu như thế nào?.
Theo Từ điển pháp luật của Hoa Kỳ, tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia [54, tr. 9] và theo UNCITRAL, thuật ngữ “thương mại” phải được giải thích theo nghĩa rộng để bao trùm hết các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có hợp đồng hay không. Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm (nhưng không bị giới hạn) những giao dịch sau: các giao dịch thương mại để cung cấp hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; hợp đồng phân phối; chi nhánh hoặc đại diện thương mại, đại lý, cho thuê, gia công sản phẩm, tư vấn, công nghệ, sáng chế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hợp đồng khai thác hay nhượng đất, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ… [70, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì “thương mại” có nghĩa là “thương nghiệp, trao đổi mua bán hàng hóa” và “tranh chấp” có nghĩa là “bất đồng, trái ngược nhau” [121, tr.
Ở nước ta cho đến trước khi ban hành PLTTTM và đặc biệt là BLTTDS, giới nghiên cứu luật học có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh. Bùi Ngọc Cường, tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ, lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia quan hệ sản xuất kinh doanh [38, tr. Lê Thị Thu Thủy, tranh chấp kinh tế cần được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh tế liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế [93, tr. Tranh chấp trong kinh doanh được hiểu là sự bất đồng chính kiến, xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia kinh doanh… Tranh chấp trong kinh doanh còn được hiểu là sự bất đồng chính kiến về một hiện tượng hay sự kiện pháp lý (quyền và nghĩa vụ) phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản [97, tr.
Tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau. Theo đó, tranh chấp kinh tế có thể có các dạng cơ bản sau (i) tranh chấp trong kinh doanh: được diễn ra giữa các chủ thể tham gia kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi; (ii) tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư: loại hình tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, xây dựng - chuyển giao, xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, thực hiện các điều ước quốc tế về khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương và đa dạng; (iii) tranh chấp giữa các quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về thương mại song phương và đa dạng; (iv) tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại đa phương như: tranh chấp giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu về nhập khẩu chuối tại WTO. Có thể nói, trong các loại hình tranh chấp kinh tế kể trên, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó trong một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương nhau.
Từ cách tiếp cận khác, tranh chấp trong kinh doanh còn được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản [33, tr. Lê Thị Châu, tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh… Tuy nhiên, dù tồn tại dưới dạng nào và có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan hết sức khác nhau, nhưng đặc trưng chung các tranh chấp trong kinh doanh là luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ảnh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên. Cũng vì vậy mà trong nhiều trường hợp các tranh chấp trong kinh doanh được gọi chung là tranh chấp kinh tế [79, tr.
Còn theo nghiên cứu sinh Đào Văn Hội, tranh chấp kinh tế là những mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế [55, tr. Những khái niệm nêu trên xét ở một khía cạnh nào đó đều phù hợp với những quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Luật Thương mại năm 1997, PLTTGQCVAKT. Song với sự ra đời của PLTTTM và BLTTDS, đã có bước phát triển hơn thì đề cập tới TCTM. Các nước theo truyền thống luật Anh - Mỹ như Anh, Mỹ, Úc và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống luật này không phân biệt lĩnh vực kinh doanh (với mục đích tìm kiếm lợi nhuận) và lĩnh vực dân sự (mục đích tiêu dùng).
Điều này 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dẫn đến hệ quả là các nước này không phân biệt tranh chấp kinh doanh (những tranh chấp phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của các công ty hoặc liên quan mật thiết tới chúng) với các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động dân sự. Mọi tranh chấp dù phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động dân sự đều được giải quyết bằng phương thức giống nhau. Nói như vậy không có nghĩa là các quốc gia này không tồn tại những thiết chế riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân. Ví dụ: Vương quốc Anh có Tòa án giải quyết những khiếu nại về hạn chế quyền tự do kinh doanh; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại quốc tế.
Trong Tòa án dân sự thẩm quyền chung của Nhật Bản có những Ban riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hoặc các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh được phân cho Thẩm phán nào có nhiều kiến thức kinh doanh hoặc kinh nghiệm trong việc giải quyết các loại tranh chấp này. Các nước theo truyề n thống luật Châu Âu lục địa như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống luật này phân biệt hoạt động kinh doanh với hoạt động dân sự và thừa nhận sự tồn tại của pháp luật thương mại bên cạnh pháp luật dân sự. Pháp luật của c ác nước này có khái niệm thương nhân (thương gia) và hành vi thương mại với việc đưa ra các tiêu chí khá cụ thể để phân biệt thương nhân với người không phải là thương nhân; hành vi thương mại với hành vi dân sự.