Chương 1 PHAP LUẬT HIEN HANH VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP TÀI SAN CUA VO CHONG KHI LY HON 1. Khai niệm chung về giải quyết tranh chấp tài sản của vo chồng khi ly hôn 1. Khái niệm tài sản, tài sản chung, tài sản riêng của vợ chẳng * Khái niệm tài sản Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất dé duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Nó là van dé trung tâm, cốt lõi của moi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng.
Tài sản không thể được xem xét tách rời các giá tri xã hội. Tài san là một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là một khái niệm có tính mục đích cao. Khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội. Trong lịch sử lập pháp và nghiên cứu pháp luật thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về tài sản.
Tài sản là đối tượng của quyền sở hữu hay nói các khác thì tài sản là các quyền, tài sản là bất kế những gì có khả năng sở hữu bởi cá nhân, tập thể hoặc cho lợi ích của người khác, các quan niệm này về tài sản đều coi tài sản là các quyền được thiết lập trên vật có hiệu lực chống lại những người khác. Tài sản là một khái niệm động và phụ thuộc vào giá trị kinh tế của nó bởi tài sản là công cụ của đời sống con người. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài người, tài sản có một phạm vi khác nhau nhưng đều là công cụ đáp ứng các nhu cầu sống của con người. Khái niệm tài sản lần đầu tiên được pháp luật Việt Nam quy định khái niệm tài sản là tại Điều 172 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, theo đó “Tai sản bao gom vật có thực, tiễn, giấy to trị giả được bằng tiền và các quyền tai san’.
Tiép đó, Điều 163 BLDS năm 2005 quy định: “Tai sản bao gom vat, tiễn, giấy tờ có giá và các quyên tài sản ”. Đến nay, tại Điều 105 BLDS năm 2015 đã quy định đầy đủ hơn, rõ ràng hơn như sau: “1. Tài sản là vật, tiên, giấy tờ có giá và quyên tài sản. Tài sản bao gồm bat động sản và động sản.
Bat động sản và động sản có thé là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai `. Như vậy, có thé khái quát về tài sản là các lợi ích vật chat đáp ứng các nhu cầu của con người mà pháp luật cho phép cá nhân, pháp nhân chiếm hữu, sử dụng và định đoạt để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, nhu cầu sản xuất kinh doanh của chủ sở hữu. * Khai niệm tài sản chung Trong quan hệ hôn nhân gia đình, xuất phát từ yêu tô đặc biệt của mỗi quan hệ này nên không phải lúc nào tài sản do người chồng hoặc do người vợ làm ra, thu được đều thuộc quyền sở hữu của họ mà có thê sẽ thuộc sở hữu chung của hai vợ chồng. Theo đó, trong khối tài sản của vợ chồng sẽ được phân chia thành tài sản chung và tài sản riêng.
Trong quá trình chung sống, ngoài tình cảm thì vợ chồng còn phát sinh quyền sở hữu tài sản. Tài sản của vợ chồng là điều kiện không thê thiếu để duy trì quan hệ hôn nhân. Tài sản của vợ chồng là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng, là hình thức sở hữu chung đặc biệt. Xuất phát từ quan hệ hôn nhân, nên sự ton tại tài san cua vo chồng phụ thuộc vào sự ton tại của quan hệ hôn nhân và nó chấm dứt khi vợ hoặc chồng chết hoặc có bản án hoặc có quyết định của Tòa án về ly hôn, chia tài sản chung.
Tài sản của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung và những tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng đất của vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Khác với tài sản chung theo phân, tài sản chung của vợ chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thé là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài sản riêng trở thành tài sản chung; được thừa kế, tặng cho. Tài sản chung có thé chi do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Đây là đặc điểm thé hiện sự khác biệt giữa tài sản chung của vợ chồng với tài sản chung theo phan khác.
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, khi vợ, chồng chưa phân chia tài sản thì không xác định được tỷ lệ tài sản của mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định phân chia của Tòa án thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định. Đây là điểm khác biệt, thé hiện đặc trưng của tài sản chung vợ chồng so với tài sản chung theo phan. Vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án. Theo quy định tại Điều 33 Luật HN&GD năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng được xác lập bởi các căn cứ sau: - Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời ky hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GD năm 2014; tài sản mà vo chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung, tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. - Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của VỢ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Như vậy, từ những phân tích trên, có thé hiểu: “Tai sản chung vợ chong là những tài sản được hình thành hoặc tạo ra phù hợp với những căn cứ xác lập tài sản chung vợ chông theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan ”.
* Khải niệm tài sản riêng Xuất phát từ tư tưởng phong kiến truyền thống mà pháp luật thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc khá hạn chế việc ghi nhận tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Quy định về tài sản riêng của vợ chồng chỉ mới bước đầu xuất hiện trong Bộ Quốc triều hình luật'. Tuy nhiên, phải đến Luật HN&GD năm 1986 ' Điều 374, 375, 376 bộ Quốc triều hình luật thì quyền có tài sản riêng của vợ chồng mới chính thức được ghi nhận nhưng chưa có khái niệm cụ thể về tài sản riêng. Đến luật HN&GD năm 2000, khái niệm này mới được đưa ra trong một điều luật cụ thé và được sửa đối, bổ sung, hoàn thiện một cách day đủ hơn tại Điều 43 Luật HN&GD năm 2014 như sau: - Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng cua vo, chong. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời ky hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản | Điều 40 Luật này. Như vậy, có thê thấy khái niệm tài sản riêng đã được luật hóa theo hình thức liệt kê. Trên cơ sở đó, có thể hiểu một cách khái quát như sau: “Tai sản riêng của VỢ, chong là những tai san thuộc so hữu cua một bên vo, chồng được xác lập dựa trên các căn cứ mà pháp luật quy định bao gom: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hon; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân; tài sản mà vợ, chong có được trong thời kỳ hôn nhân thông qua giao dich bằng tài sản riêng; tài sản phục vụ nhu câu thiết yếu của vợ, chong; tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chong cũng là tài sản riêng của vợ chong; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tai sản riêng nhận được sau khi chia tài sản chung trong thời ky hôn nhân; tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chong”.
Khái niệm giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chong khi ly hôn Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều các loại tranh chấp xảy ra như tranh chap dat đai, tranh chap lao động,. Tranh chấp được hiểu là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong van đề quyền lợi giữa hai bên”. Trong hôn nhân gia đình, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyêt định có hiệu lực của Tòa án. Đời sông vo chong có mâu thuan về tình ? Từ điển Tiếng Việt- Nxb Da Nẵng 1998, tr.890 10 cảm, không tìm được tiếng nói chung thì đây là biện pháp mà pháp luật cho phép thực hiện.
Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt có thể sẽ kéo theo cả những tranh chấp về quyền nuôi con, tranh chấp về tài sản, tranh chấp về cấp dưỡng.Sự kiện ly hôn sẽ dẫn đến khối tài sản chung của vợ chồng cũng chấm dứt theo. Đây chính là nguyên do dẫn đến tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Chính vì vậy việc chia tài sản chung của vợ chồng trở thành một nhu cầu tat yếu. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, một mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội.
Mặt khác giúp cho các Toà án giải quyết nhanh chóng các vụ VIỆC. Khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn, việc tranh chấp tài sản của vợ chồng đều có thê xảy ra.