Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VỀ TRANH CHAP KINH TẾ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 11. TRANH CHAP KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XA HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIET NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp kinh tế TCKT là một hệ quả của quá trình vận động các nguồn lực phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân dưới sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh. Một xã hội có nền kinh tế càng phát triển thì TCKT càng xảy ra nhiều, càng phức tạp về tính chất và đa dạng về nội dung.
Mục đích hàng đầu của các chủ thể khi tham gia các quan hệ kinh tế là tìm kiếm lợi nhuận tối đa và xuất phát từ lợi ích cá biệt của mỗi chủ thể kinh tế mà các xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể đó là điều khó tránh khỏi. Các Mác đã từng nói: Lợi ích thúc đẩy lịch sử các dân tộc. Về khía cạnh kinh tế, quy luật giá trị (loi ích) là động lực lớn nhất chi phối TCKT. TCKT là một khát niệm mang nội hàm kinh tế - pháp lý.
Trong mỗi chế độ xã hội, dưới từng thể chế kinh tế, thậm chí trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể, khái niệm TCKT có thể mang những nội hàm riêng biệt. Nói một cách khác, khái nệm TCKT mang trong mình những dấu ấn đặc trưng của cơ chế kinh tế và điều kiện cơ sở vật chất của một xã hội, một Nhà nước nhất định. Việc xây dựng khái niệm TCKT và làm rõ nội hàm của nó sẽ giúp chúng ta thấy được bản chất pháp lý của TCKT, từ đó tìm ra biện pháp hữu hiệu để giải quyết chúng một cách nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo đảm trật tự kinh doanh và kỷ cương xã hội. Tranh chấp, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi chúng tham gia vào các quan hệ pháp luật.
Các tranh chấp trong xã hội rất phong phú và đa dạng. Chúng phát sinh trong nhiều lĩnh vực, giữa các loại chủ thể, từ những lý do khác nhau và vì những mục đích không giống nhau. Để đáp ứng một nhu cầu nào đó mà người ta có thể dựa trên một căn cứ riêng để phân loại tranh chấp. Căn cứ vào nội dung cụ thể của tranh chấp mà chia thành tranh chấp hợp đồng, tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, tranh chấp chứng khoán.
Căn cứ vào tính chất của các quan hệ pháp luật làm phát sinh tranh chấp, người ta có thể chia thành tranh chấp dân sự, TCKT (kinh doanh), tranh chấp lao động, tranh chấp hành chính. Các quốc gia trên thế giới có những quan niệm rất khác nhau về tranh chấp nói chung và tranh chấp phát sinh từ các hoạt động kinh doanh nói riêng. Không phải quốc gia nào cũng có sự phân biệt tranh chấp kinh doanh (TCKT theo cách gọi của Việt Nam) với tranh chấp dân sự. Các nước theo truyền thống luật Anh - Mỹ như: Anh, Mỹ, Úc và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống luật này không phân biệt lĩnh vực kinh doanh (với mục đích tìm kiếm lợi nhuận) và lĩnh vực dân sự (mục đích tiêu dùng).
Trong pháp luật của các nước này không tồn tại các khái niệm thương nhân (thương gia), hành vi thương mại hay giao dịch thương mại. Điều này dẫn đến hệ quả là các nước này không phân biệt tranh chấp kinh doanh (những tranh chấp phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của các công ty hoặc liên quan mật thiết tới chúng) với các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động dân sự. Mọi tranh chấp dù phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động dân sự đều được giải quyết bằng phương thức giống nhau. Nói như vậy không có nghĩa là các quốc gia này không tồn tại những thiết chế riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân.
Ví dụ: Vương quốc Anh có tòa án giải quyết những 10 khiếu nại về hạn chế quyền tự do kinh doanh; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại quốc tế [70, tr. Trong tòa án dân sự thẩm quyền chung của Nhật Bản có những Ban riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hoặc các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh được phân cho thẩm phán nào có nhiều kiến thức kinh doanh và kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp loại này. Các nước theo truyền thống luật Châu Âu lục địa như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Bi và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống luật này phân biệt hoạt động kinh doanh với hoạt động dân sự và thừa nhận sự tồn tại của pháp luật thương mại bên cạnh pháp luật dân sự. Pháp luật của các nước này có khái niệm thương nhân (thương gia) và hành vi thương mại với việc đưa ra các tiêu chí khá cụ thể để phân biệt thương nhân với người không phải là thương nhân; hành vi thương mại với hành vi dân sự.
Sự phân biệt này dẫn đến hệ quả là: (1) đối với hành vi thương mại sẽ ưu tiên áp dụng luật thương mại; những gì luật thương mại không quy định thì áp dụng luật dân sự và (ii) những tranh chấp phát sinh từ hành vi thương mại có thể được giải quyết bằng các phương thức riêng như trọng tài thương mại và tòa án thương mại. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý của các nước này không có khái niệm tranh chấp thương mại. Người ta chỉ căn cứ vào thẩm quyền tài phán của các thiết chế giải quyết tranh chấp thương mại mà nhận diện một số tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại mà thôi. Có thể đơn cử một vài trường hợp: * Cộng hòa Pháp: Căn cứ vào các quy định về thẩm quyền của Tòa án thương mại của Pháp thì các tranh chấp sau đây được coi là tranh chấp thương mại: (i) Tranh chấp liên quan đến những hành vi thương mai của bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân nao.
Các hành vi thương mại được liệt kê tại Điều 632 đoạn 2 Bộ luật Thương mại của Cộng hòa Pháp, bao gồm: 11 + Moi việc mua động sản để bán lại kiếm lời; + Mọi việc mua bất động san để bán lại hoac mua đẻ xây dựng lại thành một hay nhiều nhà rồi bán lại; + Các hoạt động sản xuất, chuyên chở, những hãng thầu cung cấp vật liệu, những hãng bán đấu giá công khai; + Các hoạt động hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán, bảo hiểm; + Các hoạt động trung gian, đại diện, đại lý thương mại; + Khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; + Giải trí công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, rap xiéc. (1) Cac tranh chấp liên quan đến những cam kết và giao dịch giữa các thương nhân. Đây có thể là các tranh chấp phát sinh từ các hành vi thương mại ban chất hoặc hành vi thương mại phụ thuộc trong hợp đồng hoặc là việc vi phạm pháp luật. Thậm chí, các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng mua hàng phục vụ cho sinh hoạt cá nhân của thương nhân cũng được coi là tranh chấp thương mại.
(ili) Các tranh chấp giữa các thành viên của một công ty kinh doanh với nhau hoặc với công ty. (iv) Các tranh chấp có liên quan đến hối phiếu hay tranh chấp liên quan đến lệnh phiếu trong đó có chữ ký của ít nhất một thương nhân. (v) Các tranh chấp liên quan đến thanh toán tư pháp hoặc thanh lý tài sản xảy ra sau khi đình chỉ thanh toán; bán hoặc thế chấp cơ sở kinh doanh hoặc các tranh chấp liên quan đến việc ghi chép vào số đăng ký thương mại. (vi) Những vụ kiện người giúp việc cho thương nhân về những hành vi liên quan đến thương mại.
Như vậy, Pháp đã dựa vào các hành vi thương mại để phân biệt tranh chấp thương mại với tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, bên cạnh tiêu chí khách thể Pháp còn sử dụng tiêu chí chủ thể để không bỏ sót các tranh chấp mang tính thương mại. Theo quy định này thì tất cả các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các thương nhân với nhau đều được coi là tranh chấp thương mại [27]. * Cộng hòa Liên bang Đức: Theo Điều 95 Luật Tổ chức tòa án của Cộng hòa Liên bang Đức thì các tranh chấp thương mai bao gồm: (i) Các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại của các thương nhân.
(ii) Các tranh chấp phát sinh từ hối phiếu theo Luật về hối phiếu hoặc từ một trong số các loại chứng từ quy định tại Điều 363 Bộ luật Thương mại. (11) Các tranh chấp liên quan đến séc theo Luật về séc. (iv) Các tranh chấp phát sinh từ quan hệ thành viên của công ty thương mại với nhau hoặc thành viên với công ty liên quan đến hoạt động của công ty, kể cả khi công ty còn tồn tại hay đã giải thể; tranh chấp giữa người quản lý công ty với công ty hoặc với thành viên công ty. (v) Các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật liên quan đến việc sử dụng tên thương mại; nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp; (vi) Các tranh chấp liên quan đến việc sử dụng một cơ sở kinh doanh; (vii) Các tranh chấp liên quan đến hang hải, đặc biệt là các tranh chấp phat sinh từ hoạt động kinh doanh vận chuyển, các dich vụ lai dat, cứu hộ, tai nạn hàng hải.
(vui) Các tranh chấp liên quan đến Luật chống cạnh tranh không lành mạnh; (ix) Các tranh chấp liên quan đến chứng khoán.