Tổng quan luận án

Công trình "Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam" là luận án tiến sĩ luật học thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số 5.05.15), do nghiên cứu sinh Đào Văn Hội thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2003, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Ngọc Dũng và TS. Nguyễn Văn Dũng.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho các quan hệ kinh tế tại Việt Nam phát triển phong phú và phức tạp, kéo theo sự gia tăng về số lượng, chủng loại và mức độ phức tạp của tranh chấp kinh tế. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1993, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Nghị định số 116/CP năm 1994 về Trọng tài kinh tế và Quyết định số 204/TTg năm 1993 về Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), thực tiễn áp dụng sau gần 10 năm đã bộc lộ nhiều điểm bất cập: quan niệm về tranh chấp kinh tế chưa thống nhất và còn quá hẹp; thủ tục giải quyết kéo dài; hiệu lực thi hành phán quyết còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện khung pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế là đòi hỏi cấp thiết nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/12/2002 của Bộ Chính trị về các nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh tế và giải quyết tranh chấp kinh tế; đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Để đạt mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ bản chất pháp lý của tranh chấp kinh tế và giải quyết tranh chấp kinh tế; đánh giá tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến quan niệm và cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế; chỉ ra ưu điểm, nhược điểm của từng phương thức giải quyết cũng như mối liên hệ giữa các phương thức.
  2. Đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trong thời gian qua, từ đó chỉ rõ các bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của từng phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế.
  3. Khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế; đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của từng phương thức, với trọng tâm là thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa các phương thức giải quyết tranh chấp nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của tranh chấp kinh tế và các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, trọng tâm là thủ tục tư pháp (Tòa án) và thủ tục trọng tài phi chính phủ. Phạm vi thời gian khảo sát tập trung vào giai đoạn từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới (1986) đến năm 2003, đặc biệt là giai đoạn gần 10 năm vận hành Tòa Kinh tế và Trọng tài kinh tế theo cơ chế mới (1993 - 2003). Phạm vi không gian là thực tiễn pháp lý tại Việt Nam, có sự khảo cứu, đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia theo truyền thống Civil Law (Pháp, Đức), Common Law (Anh, Mỹ), các nước khu vực (Nga, Nhật Bản, Singapore, ASEAN) và các chuẩn mực quốc tế (Luật Mẫu UNCITRAL, WTO).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước liên quan trực tiếp đến đề tài, được phân chia theo các nhóm:

  1. Nhóm đề tài khoa học và dự án nghiên cứu cấp bộ:
  • Chuyên đề "Tòa án kinh tế" của Bộ Tư pháp (đầu thập niên 1990);
  • Đề tài "Mô hình tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của Trọng tài kinh tế Nhà nước;
  • Dự án VIE/94/003 "Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam" của Bộ Tư pháp;
  • Đề tài khoa học cấp bộ "Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay" do Bộ Tư pháp chủ trì (1999);
  • Đề tài khoa học cấp bộ do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì năm 2001: "Tính đặc thù trong thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn".
  1. Nhóm luận án tiến sĩ luật học:
  • Luận án của tác giả Nguyễn Trung Tín: "Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế";
  • Luận án của tác giả Phan Thị Hương Thủy: "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài".
  1. Nhóm bài viết chuyên khảo của các nhà khoa học pháp lý:
  • GS. TSKH. Đào Trí Úc: "Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án và Trọng tài";
  • PGS. TS. Lê Hồng Hạnh: "Kinh tế thị trường và sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật kinh tế";
  • TS. Nguyễn Văn Dũng: "Tòa Kinh tế thuộc hệ thống Tòa án nhân dân - Những vấn đề lý luận và thực tiễn";
  • TS. Phạm Duy Nghĩa: "Về mối quan hệ giữa tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế";
  • TS. Dương Đăng Huệ: "Trọng tài kinh tế, cơ quan tài phán mới trong kinh doanh ở nước ta";
  • PGS. Hoàng Thế Liên: "Về mô hình tổ chức Tòa án kinh tế ở Việt Nam";
  • PGS. TS. Phạm Hữu Nghị: "Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay";
  • PGS. TS. Nguyễn Như Phát: "Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế";
  • TS. Trần Đình Hảo: "Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế";
  • TS. Nguyễn Am Hiểu: "Tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế ở một số nước ASEAN và một số bài học kinh nghiệm";
  • TS. Dương Thanh Mai: "Việc tiếp nhận Luật Mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế ở một số nước và việc xây dựng Dự thảo pháp lệnh trọng tài của Việt Nam";
  • TS. Phan Chí Hiếu: "Tăng cường vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế".

Vị trí của luận án: Tác giả khẳng định các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận riêng lẻ từng phương thức giải quyết tranh chấp hoặc nghiên cứu trong phạm vi một loại hình chủ thể nhất định. Luận án là công trình ở cấp độ tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tranh chấp kinh tế và cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế dưới sự chi phối của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu thế hội nhập quốc tế, phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa bốn phương thức: thương lượng, trung gian hòa giải, trọng tài và tòa án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mối liên hệ giữa kinh tế và pháp luật, cùng vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Luận án quán triệt các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Văn kiện Đại hội IX), Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 26 Hiến pháp năm 1992 ("Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật"). Ngoài ra, luận án tiếp thu luận điểm kinh tế học của P. Samuelson về vai trò của khuôn khổ pháp lý thị trường, bao gồm quyền tài sản, luật hợp đồng và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Dùng để mổ xẻ nội dung các quy định pháp luật thực định về tố tụng kinh tế, trọng tài, thương lượng và hòa giải.
  • Phương pháp so sánh luật học: Khảo sát, đối chiếu mô hình và quy định giải quyết tranh chấp kinh doanh của các hệ thống pháp luật nước ngoài (Pháp, Đức, Nga, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Singapore) và các văn kiện quốc tế (Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế, quy tắc trọng tài của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ - AAA, các thỏa thuận của WTO).
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn và thăm dò ý kiến chuyên gia: Đánh giá số liệu thực tế về tình hình thụ lý, xét xử các vụ án kinh tế của Tòa án nhân dân và hoạt động của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ: Nghị định số 735/TTg, Nghị định số 04/TTg năm 1960 ban hành Bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế, Nghị định số 54/CP năm 1975 ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Luật sửa đổi LTCTAND năm 1993, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Nghị định số 116/CP năm 1994, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997, Quyết định số 204/TTg năm 1993 và Quyết định số 114/TTg năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 02/PLDSKT năm 1995 của Bộ Tư pháp, Công văn số 11/KHXX năm 1996 của Tòa án nhân dân tối cao.
  • Dữ liệu thống kê án kiện kinh tế của hệ thống Tòa án (năm 1997 và 1998) và số liệu phát triển các thành phần kinh tế giai đoạn 1990 - 2000.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án dẫn chứng các số liệu thực tiễn phản ánh sự gia tăng của chủ thể kinh doanh và thực tế giải quyết án kinh tế tại Tòa án:

Tiêu chí thống kê thực tiễn Mốc thời gian Số liệu ghi nhận
Cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ Năm 1990
Năm 1996
Khoảng 800.000 cơ sở
2.000.000 cơ sở
Doanh nghiệp tư nhân, TNHH, cổ phần Năm 1991
Cuối năm 2000
414 doanh nghiệp
40.000 doanh nghiệp
Số vụ án HĐKT thụ lý tại Tòa án Năm 1997
Năm 1998
636 vụ việc
1.261 vụ việc
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa Năm 1997
Năm 1998
247 vụ (chiếm tỷ lệ cao nhất)
395 vụ (chiếm tỷ lệ cao nhất)
Tranh chấp hợp đồng tín dụng Năm 1997
Năm 1998
198 vụ (chiếm vị trí thứ hai)
262 vụ (chiếm vị trí thứ hai)

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh tế và giải quyết tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tranh chấp kinh tế và cơ chế giải quyết trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

  1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh tế: Tác giả đề xuất định nghĩa khoa học theo nghĩa rộng: "Tranh chấp kinh tế là những mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế". Luận án luận giải 5 dấu hiệu pháp lý đặc trưng:
  • Phát sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh tế và có liên quan mật thiết đến hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận;
  • Việc giải quyết luôn thuộc quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp trên cơ sở bình đẳng ý chí;
  • Mang yếu tố tài sản và thường gắn liền với giá trị tài sản lớn;
  • Nếu không giải quyết triệt để dễ gây ra hậu quả có tính chất dây chuyền đến các công đoạn và chủ thể khác trong chu trình kinh doanh;
  • Các bên tham gia tranh chấp chủ yếu là các chủ thể kinh doanh có đăng ký kinh doanh hợp pháp.
  1. Phân loại tranh chấp kinh tế: Luận án phân tích 3 tiêu chí phân loại chính:
  • Theo giá trị tranh chấp: Làm căn cứ phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa Tòa án nhân dân cấp huyện (tranh chấp hợp đồng kinh tế dưới 50 triệu đồng và không có nhân tố nước ngoài theo Điều 13 PLTTGQCVAKT) và Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tác giả đối chiếu với quy định phân định theo ngạch giá trị tại Đức (trên 5.000 DM thuộc Tòa thương mại, dưới 5.000 DM thuộc Tòa cấp quận), Pháp (dưới 13.000 FFr do Tòa Thương mại xử sơ chung thẩm), Singapore (dưới 10.000 USD Singapore do 56 tòa án khu vực giải quyết) và Hoa Kỳ (quy tắc AAA phân chia dưới 10.000 USD xử theo tài liệu, từ 1.000.000 USD trở lên áp dụng thủ tục tranh chấp quy mô lớn).
  • Theo tính chất quan hệ pháp luật: Bao gồm tranh chấp hợp đồng kinh tế (mua bán hàng hóa, tín dụng, xây dựng, bảo hiểm); tranh chấp nội bộ công ty (phần vốn góp, mệnh giá cổ phiếu, phân chia lợi nhuận, chịu lỗ, thanh lý tài sản); tranh chấp chứng khoán (mua bán cổ phiếu, trái phiếu).
  • Theo nhân tố nước ngoài: Phân chia theo chủ thể theo Điều 87 PLTTGQCVAKT và hướng dẫn tại Công văn số 11/KHXX năm 1996 của TANDTC; các tranh chấp có nhân tố nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.
  1. Bản chất, mục đích và yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh tế: Luận án xác định giải quyết tranh chấp kinh tế phải đáp ứng 4 mục đích (bảo vệ quyền lợi chính đáng bị xâm phạm; tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư; hoàn thiện khung pháp luật kinh tế; duy trì trật tự pháp luật và pháp chế XHCN) và thỏa mãn 4 yêu cầu (nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật; hiệu quả thi hành cao trong thực tế; bảo đảm tính dân chủ, bình đẳng, quyền tự định đoạt; bảo đảm bí mật kinh doanh, uy tín và duy trì quan hệ hợp tác lâu dài).

  2. Tổng quan 4 phương thức giải quyết tranh chấp: Luận giải bản chất của phương thức thương lượng (đàm phán trực tiếp, tính chất phi chính thức - extralegal model, không có cơ chế cưỡng chế nhà nước), trung gian hòa giải (có bên thứ ba độc lập trợ giúp), trọng tài (tổ chức xã hội - nghề nghiệp phi chính phủ, phán quyết có giá trị chung thẩm) và tư pháp (Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước, phán quyết có tính cưỡng chế cao).

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về giải quyết tranh chấp kinh tế

Chương 2 phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định và đánh giá những bất cập trong quá trình áp dụng thực tiễn:

  1. Thực trạng giải quyết theo thủ tục thương lượng và trung gian hòa giải (Mục 2.1): Pháp luật hiện hành thừa nhận và khuyến khích các bên tự thương lượng, hòa giải. Tuy nhiên, quy định pháp luật còn tản mát, chưa tạo lập cơ chế pháp lý công nhận và bảo đảm thi hành biên bản hòa giải thành ngoài tố tụng. Việc thương lượng, hòa giải phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện của các bên; khi một bên bội ước, bên kia buộc phải khởi kiện lại từ đầu, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian. Đội ngũ hòa giải viên chuyên nghiệp chưa được thể chế hóa.

  2. Thực trạng giải quyết theo thủ tục trọng tài (Mục 2.2): Khung pháp lý điều chỉnh gồm Nghị định số 116/CP năm 1994 (về các Trung tâm Trọng tài kinh tế) và các Quyết định số 204/TTg năm 1993, Quyết định số 114/TTg năm 1996 (về VIAC). Tác giả chỉ ra các bất cập:

  • Thẩm quyền giải quyết của trọng tài bị thu hẹp trong phạm vi hợp đồng kinh tế theo Thông tư số 02/PLDSKT năm 1995 của Bộ Tư pháp;
  • Thiếu cơ chế phân định rõ ràng giữa trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc (ad-hoc);
  • Phán quyết trọng tài không có cơ chế cưỡng chế thi hành trực tiếp mà phải thông qua thủ tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại nếu bên phải thi hành không tự nguyện, làm giảm tính hấp dẫn và vị thế của thiết chế trọng tài phi chính phủ;
  • Mối liên hệ hỗ trợ từ phía Tòa án đối với trọng tài (thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) chưa được quy định đầy đủ.
  1. Thực trạng giải quyết theo thủ tục tư pháp (Mục 2.3): Được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật sửa đổi LTCTAND năm 1993 và PLTTGQCVAKT năm 1994. Luận án chỉ ra các hạn chế lớn:
  • Phạm vi thẩm quyền theo Điều 12 PLTTGQCVAKT quá hẹp: chỉ thụ lý tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân hoặc pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Quy định này bỏ sót nhiều tranh chấp kinh doanh thực tế như: tranh chấp giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau; tranh chấp hợp đồng miệng trong kinh doanh; tranh chấp giữa công ty với giám đốc điều hành được thuê ngoài (không phải thành viên công ty); các tranh chấp về quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền.
  • Phân định thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp huyện theo hạn mức 50 triệu đồng tại Điều 13 PLTTGQCVAKT là quá thấp, dẫn đến quá tải án kiện tại TAND cấp tỉnh và lãng phí năng lực xét xử của cấp huyện.
  • Thủ tục tố tụng kinh tế còn rườm rà, thời hạn chuẩn bị xét xử bị kéo dài, tỷ lệ án bị hủy, sửa còn cao; công tác thi hành án kinh tế gặp nhiều vướng mắc do tài sản bảo đảm bị tẩu tán hoặc đương sự không hợp tác.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế:

  1. Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện (Mục 3.1 và 3.2): Hoàn thiện pháp luật là yêu cầu khách quan xuất phát từ sự vận động của nền kinh tế nhiều thành phần, yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (thực thi các cam kết trong khuôn khổ ASEAN/AIA, APEC, ASEM, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và chuẩn bị gia nhập WTO), và việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị. Phương hướng chủ đạo gồm:
  • Mở rộng quan niệm tranh chấp kinh tế theo hướng tiếp cận khái niệm "tranh chấp thương mại" theo nghĩa rộng của chuẩn mực quốc tế (UNCITRAL, WTO);
  • Xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động giải quyết tranh chấp, nâng cao vai trò của các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn thay thế (ADR);
  • Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữa Tòa án và Trọng tài;
  • Đảm bảo tính minh bạch, nhanh chóng và hiệu lực thi hành của các phán quyết tài phán.
  1. Các giải pháp cụ thể (Mục 3.3):
  • Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa Kinh tế: Sửa đổi quy định để Tòa án thụ lý mọi tranh chấp phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh có mục đích sinh lợi của các thương nhân, không phân biệt hình thức pháp lý của hợp đồng hay tư cách pháp nhân của chủ thể; bổ sung thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa công ty với người quản lý điều hành, tranh chấp cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền.
  • Xây dựng và ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại: Thay thế Nghị định số 116/CP năm 1994 trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985; mở rộng thẩm quyền trọng tài ra toàn bộ các quan hệ thương mại; công nhận hiệu lực chung thẩm bắt buộc của phán quyết trọng tài và quy định cơ chế Cơ quan thi hành án thi hành trực tiếp phán quyết trọng tài; quy định Tòa án hỗ trợ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và chỉ xem xét hủy phán quyết trọng tài theo các căn cứ nghiêm ngặt mang tính thủ tục.
  • Hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp về kinh tế: Nghiên cứu xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự thống nhất (tích hợp tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế theo hướng phân định thủ tục chuyên biệt cho án kinh doanh, thương mại); nâng hạn mức thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện; đơn giản hóa thủ tục chứng minh và hòa giải tại Tòa án.
  • Hoàn thiện cơ chế thi hành án: Tăng cường hiệu lực của các biện pháp kê biên, phong tỏa tài khoản; xác lập rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng (ngân hàng, cơ quan đăng ký quyền sở hữu) trong việc phối hợp thi hành án.
  • Nâng cao năng lực bộ máy tài phán: Chuẩn hóa trình độ chuyên môn, kiến thức kinh tế thương mại quốc tế và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ Thẩm phán Tòa Kinh tế, Trọng tài viên và Thư ký phiên tòa.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án ghi nhận các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về lý luận: Xây dựng định nghĩa khoa học về tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng, vượt qua giới hạn chật hẹp của khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh tế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Luận giải 5 dấu hiệu pháp lý bản chất của tranh chấp kinh tế trong kinh tế thị trường; hệ thống hóa các tiêu chí phân loại và phân tích sâu mối quan hệ nội tại, sự tương hỗ giữa 4 phương thức giải quyết tranh chấp (thương lượng, trung gian hòa giải, trọng tài, tòa án).
  • Đóng góp về thực tiễn: Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1993 - 2003; chỉ rõ các điểm nghẽn của Điều 12, Điều 87 PLTTGQCVAKT năm 1994 và Nghị định số 116/CP năm 1994. Luận án đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, sửa đổi Bộ luật Dân sự và xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và bối cảnh nghiên cứu được văn bản xác định:

  • Hạn chế: Luận án tập trung chuyên sâu vào hai thiết chế tài phán chủ đạo là Tòa án kinh tế và Trọng tài kinh tế phi chính phủ, do đó chưa đi sâu phân tích chi tiết quy trình tố tụng chuyên biệt cho các dạng tranh chấp mới phát sinh như sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, thị trường chứng khoán phái sinh hay các tranh chấp đầu tư quốc tế phức tạp thuộc thẩm quyền ICSID, MIGA.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án định hướng các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung làm rõ cơ chế phối hợp tư pháp quốc tế trong việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, hoàn thiện khung pháp lý về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài, cũng như xây dựng các quy chế hòa giải thương mại chuyên nghiệp tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao trong quá trình xây dựng, sửa đổi các văn bản luật quan trọng như Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp.
  • Cán bộ thực tiễn tư pháp và bổ trợ tư pháp: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các Thẩm phán Tòa Kinh tế, Trọng tài viên tại các Trung tâm trọng tài, Hòa giải viên, Chấp hành viên cơ quan thi hành án và các Luật sư hoạt động trong lĩnh vực tư vấn kinh doanh - thương mại.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật khi nghiên cứu các chuyên đề về Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Pháp luật Tố tụng dân sự và Trọng tài thương mại.
  • Cộng đồng doanh nghiệp: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp hiểu rõ đặc tính, ưu điểm và hạn chế của từng phương thức giải quyết tranh chấp để chủ động lựa chọn phương án bảo vệ quyền lợi tối ưu khi xảy ra bất đồng kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm tranh chấp kinh tế được tác giả luận án định nghĩa như thế nào?
Tác giả định nghĩa theo nghĩa rộng: Tranh chấp kinh tế là những mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế. Tranh chấp này phát sinh trực tiếp từ hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, thuộc quyền tự định đoạt của các bên và mang yếu tố tài sản.

2. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định những loại việc nào thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế?
Theo Điều 12 của Pháp lệnh năm 1994, Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh tế gồm: (1) Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; (2) Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, hoặc giữa các thành viên với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; (3) Tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu; (4) Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Điều 87 quy định Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh tế có một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài.

3. Tiêu chí giá trị tranh chấp có ý nghĩa pháp lý gì trong pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế Việt Nam tại thời điểm năm 2003?
Tiêu chí giá trị tranh chấp có ý nghĩa xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp đối với tranh chấp hợp đồng kinh tế không có nhân tố nước ngoài: những vụ việc có giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng thuộc thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp huyện (Điều 13 PLTTGQCVAKT), các vụ việc từ 50 triệu đồng trở lên thuộc thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.

4. Vì sao tác giả cho rằng quan niệm về tranh chấp kinh tế theo Điều 12 PLTTGQCVAKT năm 1994 là quá hẹp?
Quy định này chỉ giới hạn ở hợp đồng kinh tế bằng văn bản có ít nhất một bên là pháp nhân, dẫn đến bỏ sót nhiều tranh chấp kinh doanh thực tế như: tranh chấp giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau, tranh chấp hợp đồng miệng, tranh chấp giữa công ty với người quản lý điều hành không phải là thành viên công ty, cũng như các tranh chấp về quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh không lành mạnh.

5. Phương thức thương lượng giải quyết tranh chấp kinh tế có những đặc trưng cơ bản nào?
Thương lượng mang tính chất phi chính thức (extralegal model), do các bên tự nguyện thỏa thuận mà không có sự tham gia của bên thứ ba; kết quả thương lượng không có cơ chế cưỡng chế thi hành của Nhà nước; quy trình hoàn toàn khép kín bảo đảm bí mật kinh doanh; và hiệu quả phụ thuộc vào thiện chí cùng kỹ năng đàm phán của các bên.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đào Văn Hội đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc phân tích chuyên sâu bốn phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn pháp lý của hệ thống văn bản giai đoạn 1993 - 2003. Các giải pháp do luận án đề xuất đã đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp cho quá trình đổi mới thể chế tư pháp, mở rộng khái niệm tranh chấp thương mại theo chuẩn mực quốc tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng kinh tế tại Việt Nam.