Chương 1: Lý luận cơ bản về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và thực tiễn thực hiện tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả thực hiện tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1.
Lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Trong quá trình phát triển xã hội loài ngƣời, đất đai chính là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên sơ khai nhất, và từ những bƣớc đầu tiên đó, đất đai đã và đang chứng minh đƣợc vai trò quan trọng của mình trong mọi hình thái kinh tế - xã hội của lịch sử. Sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và tinh thần, tất cả các kỹ thuật và vật chất văn hóa khoa học đều đƣợc xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng và tận dụng đất đai.
Có thể khẳng định rằng đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, là nền tảng xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh,. và đất đai gần nhƣ gắn liền với mọi hoạt động của đời sống con ngƣời. Song hành với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng cao, các quan hệ pháp luật liên quan đến đất đai ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp dẫn đến thực trạng số lƣợng tranh chấp đất đai ngày càng tăng cả về số lƣợng vụ việc lẫn mức độ phức tạp và hậu quả mà nó có thể mang lại. Tranh chấp đất đai phát sinh từ các quan hệ đất đai, bất cứ các lĩnh vực nhƣ dân sự, thƣơng mại hay hành chính miễn sao chúng có liên quan đến đất đai.
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2003) định nghĩa tranh chấp là “1. Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào; 2. Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thƣờng là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [43, tr. Trong khi đó, theo Từ điển Luật học của Black (tái bản lần thứ 7), tranh chấp đƣợc định nghĩa là “một xung đột hoặc tranh cãi dẫn đến một vụ kiện cụ thể” [2, tr.485] 7 hay Bách khoa toàn thƣ luật pháp của bờ Tây Hoa Kỳ lại định nghĩa rất chi tiết tranh chấp là: Một xung đột hoặc tranh cãi; xung đột về yêu sách hoặc quyền; sự khẳng định về quyền, yêu sách hoặc yêu cầu của một bên, đƣợc đáp ứng bới những tuyên bố hoặc cáo buộc trái ngƣợc của bên còn lại.
Chủ thể của tranh tụng; vấn đề mà một vụ kiện đƣợc đƣa ra và vào vấn đề mà một vụ kiện đƣợc đƣa ra và vấn đề nào đƣợc tham gia, và liên quan đến các bồi thẩm viên đƣợc gọi và các nhân chứng bị kiểm tra [1, tr. Nhìn chung, các khái niệm trên đều định nghĩa tranh chấp là một xung đột hoặc tranh cãi về một sự vật, sự việc cụ thể và kết quả có thể dẫn đến một vụ kiện. Trong phạm vi chủ đề của luận văn, đối tƣợng tranh chấp là đất đai, cụ thể là quyền sử dụng đất. Giáo trình của trƣờng Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai… các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai”.
Cách định nghĩa này đã giải thích đƣợc đối tƣợng của tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất nhƣng vẫn chƣa xác định một cách chính thức phạm vi, quy mô quyền và nghĩa vụ mà ngƣời sử dụng đất có đƣợc khi tham gia vào các quan hệ luật pháp khác. Luật Đất đai 2013 giải thích Tranh chấp đất đai là “tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [22, Điều 3, Khoản 24]. Theo khái niệm này, đối tƣợng tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất, trong quan hệ đất đai đó ngoài quyền sử dụng đất còn có tài sản gắn liền với đất, địa giới hành chính, mục đích sử dụng đất,… Cách định nghĩa trong Luật đất đai 2013 đã định nghĩa khái quát đƣợc những điểm cần thiết trong tranh chấp đất đai về chủ thể, đối tƣợng và nội dung của tranh chấp đất đai. Nhƣ vậy, tranh chấp đất đai được hiểu là các mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên trong thực hiện quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
8 Các mâu thuẫn, bất đồng này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên trong sử dụng đất, gây mất ổn định các quan hệ đất đai. Hiện nay, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận mà tranh chấp đất đai có thể đƣợc chia làm nhiều loại nhƣng cơ bản ta chia tranh chấp đất đai thành ba dạng chính là: Thứ nhất, tranh chấp về quyền sử dụng đất. Tranh chấp về quyền sử dụng đất bao gồm những tranh chấp giữa ngƣời sử dụng đất với nhau về ranh giới, mốc giới giữa những vùng đất đƣợc phép sử dụng và quản lý; tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ pháp luật nhƣ thừa kế, ly hôn,…; đòi lại đất, tài sản gắn liền với đất của ngƣời thân trong những giai đoạn trƣớc mà qua các cuộc điều chỉnh ruộng đất đã đƣợc cấp cho ngƣời khác; tranh chấp giữa đồng bào dân tộc địa phƣơng với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, giữa đồng bào địa phƣơng với các nông trƣờng, lâm trƣờng và tổ chức sử dụng đất khác. Thứ hai, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất.
Trong quá trình sử dụng đất, một bên hoặc nhiều bên có thể có những vi phạm dẫn tới làm cản trở hoặc ảnh hƣởng tới việc thực hiện quyền của ngƣời khác dẫn tới tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thế chấp,… đất đai; tranh chấp trong việc bồi thƣờng giải phóng mặt bằng khi nhà nƣớc thu hồi đất,… Thứ ba, tranh chấp về mục đích sử dụng đất. Để bảo đảm tài nguyên đất đƣợc sử dụng hiệu quả pháp luật quy định nhiều mục đích sử dụng đất khác nhau tƣơng ứng với các quyền và nghĩa vụ khác nhau của ngƣời sử dụng đất. Hiện nay có những loại mục đích sử dụng đất đƣợc chia làm hai nhóm chính là nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp. Trong đó, nhóm đất nông nghiệp lại đƣợc phân nhỏ thành đất trồng lúa nƣớc, đất trồng lúa nƣơng, đất trông cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trong thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Nhóm đất phi nông nghiệp lại đƣợc phân nhỏ thành đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất quốc phòng, đất an ninh, đất cụm công nghiệp, đất khu chết xuất, đất di tích lịch sử văn 9 hoá, đất công trình công cộng, đất cơ sở tôn giáo,… và đất phi nông nghiệp khác. Trong quá trình phân bổ, quy hoạch, chuyển đổi,… các bên trong quan hệ đất đai có thể phát sinh tranh chấp về mục đích sử dụng đất [40, tr. Đặc điểm tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai là tranh chấp khá phổ biến hiện nay và có tính đặc thù bởi nhiều nguyên nhân nhƣ đối tƣợng không phải quyền sở hữu mà là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất là quyền tài sản có giá trị lớn hoặc rất lớn cũng nhƣ đất đai có thể là đối tƣợng của nhiều quan hệ pháp luật khác nhau nhƣ dân sự, thƣơng mại, hành chính,… nên cùng lúc các tranh chấp đất đai có thể phải chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau. Để nhận biết và phân biệt tranh chấp đất đai với các tranh chấp khác ta dựa vào những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là quyền sở hữu tài sản mà là quyền sử dụng đất Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai 2013 đều xác định rõ: đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nƣớc có các quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nƣớc và thống nhất quản lý nhà nƣớc về đất đai. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền về tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tƣơng lai.
Trong đó đất đai là bất động sản. Pháp luật quy định về quyền sở hữu đối với tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên các tổ chức, cá nhân là chủ thể của tranh chấp đất đai không có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đất đai mà chỉ có quyền sử dụng và quyền định đoạt trong giới hạn mà pháp luật cho phép, hoàn toàn không có quyền chiếm hữu đất đai nhƣ chiếm hữu các loại tài sản khác. Thật vậy, tại Việt Nam đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nƣớc có các quyền và nghĩa 10 vụ trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nƣớc và thống nhất quản lý về đất đai. Trong mối quan hệ đất đai, nhà nƣớc tham gia với tƣ cách là chủ thể mang quyền lực công thực hiện chức năng quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đồng thời là đại diện chủ sở hữu toàn dân, thay mặt và đại diện cho nhân dân thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai.