Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp tiếp cận hoạt động thương mại quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng phát của đại dịch COVID-19 từ cuối năm 2019. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đại dịch đã tạo ra cú sốc nghiêm trọng cho thương mại toàn cầu với mức sụt giảm ước tính từ 13% đến 23%. Tại Việt Nam – quốc gia sở hữu bờ biển dài 3.260 km với thế mạnh nuôi trồng và đánh bắt thủy sản – các biện pháp giãn cách xã hội và kiểm soát biên giới đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Ngành xuất khẩu đối mặt với tác động kép khi nguyên liệu đầu vào gặp khó khăn và thị trường đầu ra bị thu hẹp, khiến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2020 của cả nước giảm hơn 31% so với năm 2019.
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội (Seaprodex Hanoi) là doanh nghiệp có bề dày hoạt động trong ngành thủy sản, trong đó Nhật Bản là thị trường xuất khẩu truyền thống lớn nhất. Dưới tác động của đại dịch, hoạt động xuất khẩu của công ty sang thị trường này chịu nhiều hệ lụy tiêu cực: sản lượng suy giảm, nhu cầu tiêu dùng tại Nhật Bản biến động, năng lực sản xuất bị thu hẹp và chi phí vận tải biển tăng cao. Từ thực tiễn đó, tác giả Mai Khánh Linh thực hiện đề tài nhằm tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ khó khăn, ổn định và thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của công ty sang Nhật Bản.
Văn bản xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xuất khẩu và các hoạt động thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản sang thị trường Nhật Bản của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội giai đoạn 2018 - 2021, làm rõ những tác động từ đại dịch COVID-19.
- Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủy sản của công ty sang thị trường Nhật Bản trong giai đoạn phục hồi kinh tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh đại dịch COVID-19.
- Phạm vi thời gian: Số liệu và thông tin thực tế được thu thập và phân tích từ năm 2018 đến đầu năm 2022.
- Phạm vi không gian: Thị trường nhập khẩu thủy sản Nhật Bản và hệ thống sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba khía cạnh quản trị xuất khẩu chính gồm nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu phát triển thị trường và tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên các khái niệm pháp lý và lý luận quản trị kinh doanh quốc tế. Tác giả dẫn chiếu Điều 28, Khoản 1 Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam để xác định bản chất của hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Khóa luận phân loại và phân tích 6 hình thức xuất khẩu chủ yếu:
- Xuất khẩu trực tiếp
- Xuất khẩu ủy thác
- Mua bán đối lưu (buôn bán đối lưu)
- Gia công quốc tế
- Giao dịch tái xuất
- Xuất khẩu tại chỗ
Về lý thuyết thúc đẩy xuất khẩu, tác giả phân tích khái niệm thúc đẩy xuất khẩu là các biện pháp gia tăng sản lượng và kim ngạch tiêu thụ tại thị trường mục tiêu nhằm tối ưu hóa lợi nhuận. Khóa luận hệ thống hóa các nhóm nhân tố ảnh hưởng: nhóm nhân tố bên ngoài (điều kiện tự nhiên, công nghệ, hạ tầng cảng biển và ngân hàng, môi trường xã hội - chính trị - pháp lý, chính sách thương mại như hạn ngạch, trợ cấp, tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh dịch tễ, tỷ giá hối đoái và 5 áp lực cạnh tranh ngành); nhóm nhân tố bên trong (năng lực quản trị của ban giám đốc, trình độ đội ngũ nhân sự xuất nhập khẩu, chiến lược nhân sự, tiềm lực tài chính, chiến lược Marketing-mix, uy tín thương hiệu và 5 mức độ quen thuộc của nhãn hiệu). Hệ thống giải pháp thúc đẩy xuất khẩu được phân định theo chiều rộng (quy mô, công nghệ, chất lượng, thị trường, kênh phân phối, xúc tiến thương mại), theo chiều sâu (năng lực cạnh tranh từ thu hút vốn, nguồn nhân lực, văn hóa doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội) và các giải pháp đặc thù thích ứng an toàn với COVID-19 (thương mại điện tử, xúc tiến trực tuyến, mô hình sản xuất an toàn).
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu từ các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính kiểm toán các năm 2018, 2019, 2020, 2021 của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội; các ấn phẩm, công trình nghiên cứu khoa học trong nước; dữ liệu từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), Tổng cục Thủy sản, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Our World in Data.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, so sánh tương đối và tuyệt đối, phân tích chỉ số tài chính, phương pháp tổng hợp và phân tích định tính nhằm đánh giá biến động kinh doanh qua các mốc thời gian và không gian thị trường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Tác giả tiến hành điểm luận 5 công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan:
- Luận văn của Vũ Thị Thủy về phát triển xuất khẩu bền vững mặt hàng dệt may sang thị trường Hàn Quốc.
- Luận văn của Nguyễn Tiến Minh về giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê sang thị trường EU.
- Nghiên cứu của Đỗ Thùy Trang về tác động của dịch COVID-19 đến xuất khẩu hạt điều Việt Nam.
- Bài báo khoa học của Dương Mạnh Hùng (Tổng cục Thống kê) về nguy cơ đứt gãy chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu thủy sản.
- Bài báo của An Bình (Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại) về chuyển dịch chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu.
Tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu: mặc dù các vấn đề về thúc đẩy xuất khẩu và đại dịch COVID-19 được quan tâm rộng rãi, việc đi sâu vào trường hợp cụ thể của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lâu năm như Seaprodex Hanoi sang một thị trường có rào cản kỹ thuật cao như Nhật Bản trong điều kiện dịch bệnh vẫn chưa được giải quyết thấu đáo.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về thương mại quốc tế, bản chất của xuất khẩu theo quy định của Luật Thương mại 2005 và ưu nhược điểm của 6 hình thức xuất khẩu. Chương 2 làm rõ vai trò của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc gia (chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu từ thô sang chế biến, chuyển giao công nghệ, tạo việc làm) và đối với doanh nghiệp (tăng lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro).
Tác giả phân tích chi tiết hai nhóm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu:
- Thúc đẩy theo chiều rộng: Bao gồm các biện pháp tác động vào phía cung (mở rộng quy mô, hiện đại hóa công nghệ sơ chế, bảo quản, chuẩn hóa chất lượng, đa dạng hóa mặt hàng, tạo dựng thương hiệu) và phía cầu (nghiên cứu thị trường tại bàn kết hợp khảo sát thực tế, tối ưu hóa hệ thống kênh phân phối giảm trung gian, đa dạng hóa phương thức giao dịch, tăng cường quảng cáo, hội chợ quốc tế, tặng phẩm).
- Thúc đẩy theo chiều sâu: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện tác phong văn hóa kinh doanh, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội, xây dựng uy tín thương hiệu.
- Giải pháp đặc thù bối cảnh COVID-19: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại qua nền tảng số, chuyển đổi số, tổ chức vận hành sản xuất an toàn (chuỗi "3 tại chỗ"), cấu trúc lại cơ sở vật chất và khai thác các gói hỗ trợ của Chính phủ.
Dựa trên thực tiễn tại doanh nghiệp, tác giả khu biệt nội dung nghiên cứu ứng dụng vào 3 trục chính: nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu mở rộng thị trường và tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại.
Chương 3: Thực trạng hoạt động thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh đại dịch COVID-19 của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội
Tác giả giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội: tiền thân là Chi nhánh xuất nhập khẩu Hải sản Hà Nội trực thuộc Công ty XNK Hải sản Việt Nam, thành lập theo Quyết định 544HS/QĐ ngày 05/7/1980 của Bộ trưởng Bộ Hải sản; chuyển sang mô hình công ty cổ phần theo phê duyệt ngày 15/09/2006 của Bộ Thủy sản; đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 11 vào ngày 11/05/2020. Bộ máy gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban Tổng Giám đốc, 4 phòng kinh doanh (Kinh doanh XNK I, II, III và Kinh doanh nội địa), 2 phòng chức năng (Tổ chức hành chính, Kinh tế tài chính) và 5 đơn vị trực thuộc (trong đó 2 chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh và Quảng Ninh đang tạm dừng hoạt động).
Doanh nghiệp vận hành 3 mảng kinh doanh chính: sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu (mũi nhọn), kinh doanh nhập khẩu vật tư (sắt thép, máy móc, thủy sản) và kinh doanh dịch vụ - nội địa (cho thuê văn phòng, kho lạnh, bán lẻ).
| Chỉ tiêu tài chính |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
| Doanh thu thuần (Tỷ VND) |
190,311 |
236,506 |
133,062 |
151,000 |
| Tăng trưởng doanh thu (%) |
- |
+24,27% |
-43,74% |
Tăng nhẹ |
| Lợi nhuận sau thuế (Tỷ VND) |
11,958 |
13,388 |
28,471 |
-4,570 |
| Tăng trưởng LNST (%) |
- |
+11,96% |
+112,66% |
Báo lỗ |
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tài chính 2018 - 2021 của công ty trong văn bản
Hoạt động xuất khẩu thủy sản của công ty có tổng kim ngạch qua các năm: đạt 3,35 triệu USD (2018), giảm xuống 2,42 triệu USD (2019), tăng lên 2,654 triệu USD (2020) và đạt 3,37 triệu USD (2021). Cơ cấu thị trường duy trì ổn định với Nhật Bản là đối tác lớn nhất:
| Thị trường xuất khẩu |
Năm 2018 (%) |
Năm 2019 (%) |
Năm 2020 (%) |
Năm 2021 (%) |
| Nhật Bản |
37,61 (1,26 Tr.USD) |
42,56 (1,03 Tr.USD) |
42,20 (1,12 Tr.USD) |
37,09 (1,25 Tr.USD) |
| Hoa Kỳ |
24,18 (0,81 Tr.USD) |
22,73 (0,55 Tr.USD) |
25,24 (0,67 Tr.USD) |
24,33 (0,82 Tr.USD) |
| Liên minh Châu Âu (EU) |
22,99 (0,77 Tr.USD) |
20,25 (0,49 Tr.USD) |
19,59 (0,52 Tr.USD) |
23,74 (0,80 Tr.USD) |
| Thị trường khác |
15,22 (0,51 Tr.USD) |
14,46 (0,35 Tr.USD) |
12,97 (0,344 Tr.USD) |
14,84 (0,50 Tr.USD) |
| Tổng cộng |
100 (3,35 Tr.USD) |
100 (2,42 Tr.USD) |
100 (2,654 Tr.USD) |
100 (3,37 Tr.USD) |
Nguồn: Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty
Về thị trường Nhật Bản: Đây là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 thế giới (giá trị năm 2019 đạt 15,6 tỷ USD, khối lượng 2,5 triệu tấn). Dân số gần 126 triệu người, thu nhập bình quân đầu người khoảng 43.000 USD (2021), tỷ lệ già hóa cao (người trên 65 tuổi chiếm 27,8% năm 2020). Việt Nam là đối tác cung ứng thủy sản lớn thứ 5 sang Nhật Bản (năm 2021 đạt trên 111.000 tấn, trị giá 840 triệu USD).
Đại dịch COVID-19 đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng: trong đợt dịch bùng phát từ tháng 4/2021 tại Đồng bằng sông Cửu Long, 50% nhà máy chế biến tôm và cá tra phải đóng cửa; 50% còn lại chỉ hoạt động 30% công suất trong giai đoạn tháng 7 - 11/2021; chi phí sản xuất "3 tại chỗ" và kiểm xét nghiệm tăng vọt. Về phía Nhật Bản, các quy định kiểm dịch, an toàn thực phẩm, thủ tục thông quan bị siết chặt; nhu cầu nhà hàng giảm nhưng tiêu dùng thực phẩm tại nhà có xu hướng tăng.
Kênh phân phối của công ty sang Nhật Bản chủ yếu là gián tiếp thông qua các tập đoàn bán buôn lớn, trong đó đối tác lớn nhất là Công ty Nichirei. Cơ cấu mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản được phân tích chi tiết:
| Mặt hàng xuất sang Nhật |
2018 (Tr.USD) |
2019 (Tr.USD) |
2020 (Tr.USD) |
2021 (Tr.USD) |
Tỷ trọng 2021 (%) |
| Tôm (40 con/kg và 60-80 con/kg) |
0,660 |
0,516 |
0,573 |
0,578 |
46,24% |
| Mực (tươi và đông lạnh) |
0,280 |
0,270 |
0,300 |
0,390 |
31,20% |
| Cá |
0,210 |
0,164 |
0,180 |
0,202 |
16,16% |
| Mặt hàng khác |
0,110 |
0,080 |
0,067 |
0,080 |
6,40% |
| Tổng kim ngạch sang Nhật |
1,260 |
1,030 |
1,120 |
1,250 |
100% |
Nguồn: Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty
Về giá bán xuất khẩu sang Nhật Bản ghi nhận tại ngày 25/12/2021: Tôm loại 60 - 80 con/kg đạt 7,2 USD/kg; Tôm loại 40 con/kg đạt 7,9 USD/kg; Cá đạt 2,1 USD/kg; Mực đông lạnh đạt 12,2 USD/kg; Mực tươi đạt 15,1 USD/kg. Tác giả đánh giá những hạn chế còn tồn tại: chất lượng sản phẩm chưa thực sự ổn định do biến động nguồn cung nguyên liệu thô, chi phí vận chuyển tăng cao, phương thức xúc tiến thương mại truyền thống bị ngưng trệ và công ty phụ thuộc lớn vào trung gian phân phối Nichirei.
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh đại dịch COVID-19 của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội
Chương 4 vạch ra các định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp:
- Định hướng phát triển: Tận dụng tối đa các ưu đãi từ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); duy trì thị trường truyền thống Nhật Bản song song với việc nâng cao biên lợi nhuận; chuyển dịch từ xuất khẩu sản phẩm thô/sơ chế sang các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.
- Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng sản phẩm: Kiểm soát chặt chẽ quy trình thu mua nguyên liệu đầu vào tại các vùng nuôi trồng đạt chuẩn; đầu tư cải tiến công nghệ cấp đông, bảo quản tại các xí nghiệp chế biến trực thuộc (như Xí nghiệp Xuân Thủy, Xí nghiệp Thủy đặc sản Hà Nội); tuân thủ các quy định kiểm nghiệm dư lượng kháng sinh và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm nghiêm ngặt của Nhật Bản.
- Nhóm giải pháp về xúc tiến thương mại: Chuyển đổi mạnh mẽ từ các hình thức xúc tiến truyền thống sang xúc tiến thương mại điện tử; tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế bằng hình thức gian hàng trực tuyến; xây dựng và nâng cấp hệ thống website giới thiệu sản phẩm đa ngôn ngữ để đối tác nước ngoài tiếp cận dữ liệu nhà máy và chứng chỉ chất lượng.
- Nhóm giải pháp về nghiên cứu và mở rộng thị trường: Nghiên cứu kỹ chu kỳ tiêu dùng thủy sản của người Nhật (nhu cầu đạt đỉnh vào tháng 12 và tháng 1 phục vụ lễ đón năm mới để đẩy mạnh nguồn cung hàng cao cấp); đa dạng hóa mạng lưới khách hàng bán buôn và bán lẻ tại Nhật Bản nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc độc quyền vào kênh Nichirei.
- Kiến nghị: Khóa luận đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các Hiệp hội ngành hàng trong việc hỗ trợ vốn tín dụng, ổn định chi phí logistics hàng hải và tháo gỡ rào cản kỹ thuật.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh đầy đủ bức tranh xuất khẩu thực tế của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội qua giai đoạn dịch bệnh:
- Làm rõ diễn biến kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản: từ mức 1,26 triệu USD (năm 2018) giảm xuống mức đáy 1,03 triệu USD (năm 2019) do tác động ban đầu của dịch bệnh, sau đó phục hồi dần lên 1,12 triệu USD (năm 2020) và đạt 1,25 triệu USD (năm 2021).
- Xác lập cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thực tế sang thị trường Nhật: mặt hàng tôm chiếm tỷ trọng lớn nhất (từ 46,24% đến 52,38%), tiếp theo là mặt hàng mực (tăng trưởng từ 22,22% năm 2018 lên 31,20% năm 2021), cá chiếm ổn định khoảng 16% và các mặt hàng khác chiếm 6,4% - 8,73%.
- Ghi nhận chi tiết mức giá xuất khẩu thực tế của từng mặt hàng tại thời điểm cuối năm 2021, làm cơ sở đối chiếu biến động chi phí đầu vào và hiệu quả kinh doanh.
Đóng góp của nghiên cứu được tác giả tự xác định là đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thúc đẩy xuất khẩu gắn với tình huống khủng hoảng chuỗi cung ứng toàn cầu do đại dịch COVID-19 gây ra. Đồng thời, nghiên cứu phân tích toàn diện thực trạng tài chính, sản xuất và các số liệu xuất khẩu nội bộ của Seaprodex Hanoi giai đoạn 2018 - 2021, từ đó đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp trọng tâm (chất lượng, xúc tiến số, nghiên cứu thị trường) có tính khả thi đối với chính doanh nghiệp tại thời điểm bình thường mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và điều kiện thực hiện được văn bản đề cập:
- Đề tài tập trung phân tích trường hợp cụ thể tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội đối với thị trường Nhật Bản, do đó một số phát hiện và giải pháp mang tính chất đặc thù đơn vị, chưa mang tính đại diện khái quát cho toàn bộ các doanh nghiệp ngành thủy sản Việt Nam.
- Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc khai thác các tài liệu thứ cấp, báo cáo tài chính và báo cáo kinh doanh nội bộ giai đoạn 2018 - 2021; chưa thể triển khai các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn hoặc phỏng vấn định lượng trực tiếp người tiêu dùng và nhà nhập khẩu tại nội địa Nhật Bản do các rào cản giãn cách vì dịch bệnh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2022 khi các rào cản kiểm soát dịch bệnh được dỡ bỏ hoàn toàn, đồng thời đo lường định lượng mức độ khai thác các cam kết thuế quan ưu đãi trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP và EVFTA tác động đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế, Thương mại quốc tế làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng báo cáo phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của một doanh nghiệp thương mại cụ thể.
- Độc giả nghiên cứu về thị trường thủy sản Nhật Bản, các đặc tính tiêu dùng thực phẩm theo mùa, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật nhập khẩu của Nhật Bản và cơ cấu tổ chức phân phối hàng thủy sản nhập khẩu.
- Phần đáng giá nhất để tham khảo là chuỗi số liệu nội bộ về kim ngạch, giá bán chi tiết từng loại mặt hàng thủy sản (tôm, cá, mực) và bức tranh biến động tài chính của Seaprodex Hanoi trong giai đoạn khủng hoảng chuỗi cung ứng 2020 - 2021.
Câu hỏi thường gặp
Doanh thu và lợi nhuận của Seaprodex Hanoi biến động như thế nào trong giai đoạn 2018 - 2021?
Doanh thu thuần năm 2018 đạt 190,311 tỷ đồng, tăng lên 236,506 tỷ đồng năm 2019 (+24,27%), sau đó giảm xuống 133,062 tỷ đồng năm 2020 (-43,74%) và đạt 151 tỷ đồng năm 2021. Lợi nhuận sau thuế năm 2018 đạt 11,958 tỷ đồng; năm 2019 đạt 13,388 tỷ đồng; năm 2020 đạt đỉnh 28,471 tỷ đồng (+112,66%), nhưng đến năm 2021 công ty báo lỗ 4,57 tỷ đồng do chi phí đầu vào tăng mạnh và gánh nặng chi phí cố định.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản chiếm bao nhiêu trong tổng doanh số xuất khẩu của công ty?
Thị trường Nhật Bản luôn duy trì vị trí số một, chiếm khoảng gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Seaprodex Hanoi: năm 2018 chiếm 37,61% (1,26 triệu USD); năm 2019 chiếm 42,56% (1,03 triệu USD); năm 2020 chiếm 42,20% (1,12 triệu USD); năm 2021 chiếm 37,09% (1,25 triệu USD).
Mặt hàng nào chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu thủy sản xuất sang Nhật Bản của công ty?
Mặt hàng tôm (gồm loại 40 con/kg và loại 60 - 80 con/kg) chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 52,38% năm 2018; 50,08% năm 2019; 51,16% năm 2020 và 46,24% năm 2021. Mặt hàng mực đứng thứ hai và có xu hướng tăng nhanh, đạt 31,20% năm 2021.
Giá xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của công ty sang Nhật Bản ghi nhận vào ngày 25/12/2021 là bao nhiêu?
Theo số liệu của Phòng Kinh doanh XNK, giá xuất khẩu ghi nhận: Tôm loại 60 - 80 con/kg là 7,2 USD/kg; Tôm loại 40 con/kg là 7,9 USD/kg; Cá là 2,1 USD/kg; Mực đông lạnh là 12,2 USD/kg; Mực tươi đạt 15,1 USD/kg.
Kênh phân phối hàng thủy sản của Seaprodex Hanoi sang Nhật Bản được tổ chức ra sao?
Công ty chủ yếu xuất khẩu qua các kênh phân phối gián tiếp nhiều cấp, đưa hàng sang các trung gian bán buôn tại Nhật Bản. Đối tác phân phối lớn nhất của công ty tại thị trường Nhật Bản là Công ty Nichirei.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Khánh Linh đã phân tích toàn diện thực trạng xuất khẩu thủy sản của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội sang thị trường trọng điểm Nhật Bản giai đoạn 2018 - 2021 dưới tác động của đại dịch COVID-19. Công trình cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về kim ngạch, giá bán từng mặt hàng và những biến động trong cơ cấu tài chính nội bộ của doanh nghiệp. Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn về chất lượng, chi phí logistics và kênh phân phối gián tiếp, tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tái thiết và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn phục hồi kinh tế.