Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý luận - Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở việt nam - Chương 3 : Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Luan van 1. Hàng thủ công mỹ nghệ: 1. Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ: Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng.edu) Thủ công mỹ nghệ có gốc rễ của nó trong hàng thủ công từ nông thôn bao gồm các nhu yếu phẩm, vật liệu và hàng hóa của các nền văn minh cổ đại. Một số hàng thủ công đã tồn tại trong nhiều thế kỷ, trong khi một số khác lại là các phát minh hiện đại, là sự phát triển đại trà của hàng thủ công mà ban đầu được sản xuất chỉ trong một khu vực địa lý hạn chế.
Nhiều nghệ nhân làm hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng vật liệu tự nhiên, thậm chí hoàn toàn bản địa, trong khi những người khác có thể dùng vật liệu phi truyền thống hiện đại, và thậm chí tái sử dụng các vật liệu công nghiệp. Tay nghề thủ công cá nhân của một mặt hàng thủ công mỹ nghệ là tiêu chí tối quan trọng; những hàng hóa được sản xuất hàng loạt hay bằng máy không phải là hàng thủ công mỹ nghệ. Đặc điểm hàng Thủ công mỹ nghệ Tính văn hoá Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng sản xuất tiểu thủ công khác với sản xuất công nghiệp, lao động dựa vào tay nghề và tính sáng tạo của các nghệ nhân. Do đó các sản phẩm thường có nét đặc trưng riêng của nghệ nhân và nét văn hóa của vùng miền sản xuất.
Tính văn hóa ở các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được đánh giá cao hơn nhiều so với hàng công nghiệp sản xuất hàng loạt. Khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh sinh động và sâu sắc nền văn hoá, tư Luan van tưởng và xã hội thời đại Hùng Vương. Đến nay, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm tính văn hoá như gốm Bát Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu á, mang đâm nét văn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã được xuất khẩu khắp thế giới giúp cho văn hoá của Việt Nam được lan rộng đến tầm quốc tế. Đây là điểm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng nhất là khách quốc tế, tạo nên những lợi thế cho hàng thủ công mỹ nghệ.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là hàng hoá đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng của nghề truyền thống của Việt Nam Tính mỹ thuật Sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ. Nhiều loại sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng , vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa nơi công sở…các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Chính đặc điểm này đã đem lại sự quý hiếm cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Nhờ đó, tai các hội chợ quốc tế như EXPO, hội chợ ở New York, Milan ( Ý) hàng thủ công mỹ nghệ đã gây được sự chú ý của khách hàng nước ngoài bởi sự tinh xảo trong các đường nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm , hay những kiểu dáng mẫu mã độc đáo, mặc dù nguyên liệu rất đơn giản chỉ là một hòn đá, xơ dừa…qua bàn tay của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao.
Tính đơn chiếc Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang sự biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm Bát Tràng, Thồ hà, Hương Canh…nhờ các hoa văn, màu men, hoạ tiết Luan van trên đó. Hàng thủ công mỹ nghệ Trung Quốc hay Nhật bản cho dù có phong phú, đa dạng, cho dù kiểu dáng có thể giống nhưng không thể mang được nét văn hóa Việt Nam. Đối với Việt Nam và cả khách hàng nước ngoài, hàng thủ công mỹ nghệ không những có giá trị sử dụng mà còn thúc đẩy quá trình xuất khẩu, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc.
Tính đa dạng Tính đa dạng thể hiện ở sự khác biệt trong sản xuất, đa dạng từ cách thức sản xuất đến nguyên liệu của sản phẩm. Với các nguyên liệu đa phần từ thiên nhiên nên sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đến sự mộc mạc, giản dị nhưng vẫn mang được nét văn hóa riêng. Chính vì vậy trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mỗi loại đều có sự khác biệt rõ rệt, không đồng nhất. Cũng là đồ gốm sứ nhưng người dùng vẫn có thể thấy đâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc… Tính thủ công Tính thủ công đã được thể hiện qua tên gọi của sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Điều đó được thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật. Dù không so sánh được với tính hữu dụng của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêu thích của người tiêu dùng. Phân loại hàng thủ công mỹ nghệ Phân loại theo mặt hàng thủ công mỹ nghệ Luan van Mây tre đan, sản phẩm từ cói và Sản phẩm mây, tre, cói lục bình Gốm sứ Sản phẩm gốm, sứ Dệt thủ công, thêu ren Thảm và các loại hàng dệt trải sàn Điêu khắc gỗ Gỗ khảm và dát, tráp và các loại hộp đựng đồ trang sức hoặc đựng dao kéo, và các sản phẩm tương tự, bằng gỗ; tượng nhỏ và đồ trang trí, bằng gỗ; các loại đồ dùng bằng gỗ Điêu khắc đá Nguyên bản các bản khắc, bản in và bản in lyto Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc, làm bằng mọi loại vật liệu Giấy thủ công Giấy và bìa sản xuất thủ công Tranh nghệ thuật, sơn mài Tranh vẽ, tranh phác họa và tranh bột màu, được vẽ hoàn toàn bằng tay, trừ các tác phẩm vẽ hoặc trang trí Nhóm sản phẩm thủ công mỹ Vải dệt thoi dệt từ tơ tằm nghệ khác hoặc từ phế liệu tơ tằm. Đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc và các bộ phận rời của đồ kỹ nghệ Luan van vàng bạc, bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý.
Phân loại theo các làng nghề thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam nổi tiếng với các làng nghề truyền thống sản xuất lâu đời như: Làng lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, Gốm sứ Đồng Kỵ, Gỗ Bắc Ninh,…chúng ta có thể dễ dàng phân biệt được theo sản phẩm mà địa danh đó sản xuất. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền kinh tế Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giúp mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm từ đó tăng nguồn vốn để phát triển các làng nghề truyền thống. Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong mấy năm gần đây đã mang lại cho nước ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sự phát triể n của nền kinh tế quốc dân. Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất khẩu được gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng thủ công mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái.
Đây là nguồn thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nước từ nguồn nguyên liệu rẻ tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lực lượng lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn nước ta. Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công mỹ nghệ. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hƣớng hiện đại hoá Luan van Việc phát triển các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong phú , đem lại thu nhập cao cho người lao động. Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động. Cho đếnnay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp. Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân. Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt.
Trước hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều công đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp tăng gía trị lao động tăng thu nhập quốc dân.