Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành mía đường giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn tại Việt Nam nói chung và huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng. Cây mía giúp giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho hàng nghìn hộ nông dân và tạo nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến công nghiệp. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy mô sản xuất, lượng phế thải phát sinh từ quá trình chế biến mía đường ngày càng lớn, đặt ra nhiều thách thức về mặt môi trường và chi phí xử lý.

Tại Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương (đóng trên địa bàn xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), sản lượng mía chế biến trung bình hàng năm đạt trên 500.000 tấn. Đến năm 2013, diện tích vùng nguyên liệu canh tác đạt trên 11.000 ha, sản lượng mía đạt trên 570.000 tấn với công suất ép 3.500 tấn mía cây/ngày. Với quy mô sản xuất này, lượng phế phụ phẩm thải ra môi trường hàng năm là rất lớn, trong đó riêng lượng bã mía năm 2014 ước tính khoảng 10.000 tấn, cùng với hàng nghìn tấn bã bùn lọc, tro lò và rỉ mật. Các chất thải này nếu không được thu gom, tái chế và xử lý hợp lý sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, không khí và phát tán mùi hôi thối do quá trình phân hủy hữu cơ tự nhiên, gây bức xúc cho cư dân khu vực lân cận. Mặt khác, vùng nguyên liệu trồng mía tại địa phương phần lớn là đất bạc màu và đất dốc tụ, rất cần nguồn phân hữu cơ để cải tạo độ phì nhiêu và ổn định năng suất cây trồng.

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Hằng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý phế thải mía đường tại nhà máy đường Sơn Dương – Tuyên Quang” dưới sự hướng dẫn của PGS. Đỗ Thị Lan tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2014).

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương – Tuyên Quang.
  2. Đánh giá thực trạng sản xuất mía đường tại Nhà máy đường Sơn Dương.
  3. Phân tích thành phần, đặc tính của các loại phế thải phát sinh từ ngành công nghiệp mía đường.
  4. Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ nguồn phế thải mía đường.
  5. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường phát sinh trong dây chuyền sản xuất của nhà máy.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các loại phế thải rắn, lỏng, khí và mùi phát sinh từ quá trình chế biến tại Nhà máy mía đường Sơn Dương – Tuyên Quang (trọng tâm là bã mía, bùn lọc, mật rỉ và tro lò hơi).
  • Phạm vi không gian: Nhà máy mía đường Sơn Dương thuộc Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương, xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, khảo sát và thu thập số liệu thực địa được tiến hành từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành về môi trường, phân tích các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 và Hiến chương châu Âu về nước. Về mặt sinh học nông nghiệp, tác giả làm rõ bản chất của phân hữu cơ sinh học – loại phân bón được hình thành qua quá trình lên men vi sinh vật chuyển hóa hợp chất hữu cơ thành mùn, có bổ sung các chủng vi sinh vật hữu ích (vi khuẩn cố định nitơ tự do Azotobacter, vi khuẩn và nấm sợi phân giải photphat khó tan như Bacillus polymyxa, Bacillus megaterium, Pseudomonas striata, Aspergillus awamori, xạ khuẩn Streptomyces) cùng các thành phần khoáng NPK và vi lượng.

Cơ sở khoa học của việc tận dụng phế phụ phẩm mía đường dựa trên các nghiên cứu kinh điển của Gohl, Paturau (1963) và Z. Muller (1978). Khi thu hoạch cây mía, các thành phần sinh khối phân bố gồm: thân cây (60 - 65%), ngọn và lá mía (35 - 40%). Trong quá trình chế biến tại nhà máy, sản phẩm đường thu được chiếm khoảng 9 - 10%, lượng phụ phẩm còn lại chiếm 29 - 38% khối lượng cây mía đưa vào ép (bã mía: 25 - 30%, bùn lọc và váng bọt: 1 - 4%, mật rỉ: 3 - 4%).

Thành phần dinh dưỡng Tính theo vật chất khô (%) Tính theo khối lượng tươi (%)
Độ ẩm - 6,9
Protein thô 4,0 3,7
Chất béo 1,3 1,2
Chất xơ 37,0 34,5
Tro 3,9 3,6
Nitơ tự do chiết xuất được 53,8 50,1

Nguồn: Thành phần bã mía sau ép đường theo Gohl (dẫn theo văn bản khóa luận)

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật được tác giả sử dụng làm căn cứ đánh giá gồm:

  • Văn bản pháp luật: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị; Nghị định số 202/2013/NĐ-CP về quản lý phân bón; Nghị định số 163/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón; Nghị định số 191/2007/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 113/2003/NĐ-CP; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT và Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Tiêu chuẩn Quốc gia và Quốc tế: Tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001:2008; TCVN 5815:2001 (phương pháp thử phân hỗn hợp NPK); TCVN 8559:2010 (xác định phốt pho hữu hiệu); TCVN 8560:2010 (xác định kali hữu hiệu); TCVN 9294:2012 (xác định cacbon hữu cơ tổng số bằng phương pháp Walkley-Black); TCVN 9290:2012 và TCVN 9291:2012 (xác định chì và cadimi tổng số bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS); TCVN 4829:2008 / ISO 6579:2007 (phát hiện vi sinh vật Salmonella spp trên đĩa thạch).

Tác giả sử dụng kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu môi trường:

  1. Phương pháp điều tra, thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập số liệu khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội, báo cáo môi trường và tình hình sản xuất của huyện Sơn Dương và nhà máy.
  2. Phương pháp tham khảo ý kiến: Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các cán bộ chuyên trách tại xưởng sản xuất phân vi sinh của công ty và giảng viên hướng dẫn chuyên môn.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Xử lý, so sánh chuỗi số liệu hoạt động sản xuất, các chỉ tiêu hóa lý của phế thải nhằm phân tích hiệu quả công nghệ xử lý.
  4. Phương pháp kế thừa: Sử dụng có chọn lọc các kết quả thử nghiệm phân bón, các nghiên cứu trong nước (công nghệ phân bón Huđavil, Fitohoocmon) và thế giới (kinh nghiệm xử lý phế phẩm tại Ấn Độ, Trung Quốc, Liên Xô).
  5. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp dây chuỗi công nghệ sản xuất đường, hệ thống thu gom chất thải, xưởng ủ phân vi sinh, ghi chép nhật ký và chụp ảnh tư liệu.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Văn bản khóa luận được tổ chức thành 5 phần chính, phản ánh đầy đủ tiến trình nghiên cứu từ cơ sở lý luận đến khảo sát thực tế và đề xuất công nghệ.

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của ngành nông nghiệp trồng trọt, sự thiếu hụt phân bón hữu cơ truyền thống và áp lực ô nhiễm môi trường do chất thải mía đường tại Sơn Dương. Xác định rõ mục đích nghiên cứu (5 mục tiêu), 3 yêu cầu về độ tin cậy của số liệu và tính khả thi của giải pháp, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc bảo vệ môi trường và tuần hoàn dinh dưỡng cho đất trồng mía.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.

  • Làm rõ cơ sở khoa học về các nhóm vi sinh vật chuyển hóa chất hữu cơ, vi khuẩn cố định đạm và phân giải lân khó tan (Bacillus megaterium, Bacillus polymyxa...); các khái niệm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; tổng hợp 9 văn bản quy phạm pháp luật và 8 tiêu chuẩn TCVN/ISO dùng trong kiểm nghiệm phân bón.
  • Phân tích cơ sở thực tiễn về ứng dụng bã mía: làm nhiên liệu đốt lò hơi (với nhiệt trị xấp xỉ 2.340 kcal/kg, lượng bã mía đáp ứng 80% nhu cầu nhiệt của nhà máy, phần dư thừa cần hướng xử lý khác); làm thức ăn gia súc (hạn chế do tỷ lệ tiêu hóa chất khô thấp: 25% ở con non, 50% ở con trưởng thành và chi phí chế biến cao); làm bột giấy, ván ép, nấm ăn.
  • Đánh giá tổng quan tình hình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh trên thế giới (Ấn Độ sản xuất 286 triệu tấn compost/năm; Trung Quốc thay thế 9,8 triệu tấn NPK; các chế phẩm sinh học như "Điền lực bảo", photphobacterin) và tại Việt Nam (lượng phế thải hàng năm từ 10 - 12 triệu tấn mía gồm 2,5 triệu tấn bã mía, 250.000 tấn bùn lọc, 250.000 tấn mật rỉ; hiệu quả mô hình phân bón Huđavil, Fitohoocmon giúp tăng năng suất lúa 25 - 30%, chè 70%, hồ tiêu gần 100%).

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định rõ đối tượng nghiên cứu là các dòng phế thải của Nhà máy đường Sơn Dương; phạm vi nghiên cứu tại xã Hào Phú trong thời gian 3 tháng (05/05/2014 - 05/08/2014). Thiết lập khung nội dung gồm 6 nhóm công việc cụ thể và chi tiết hóa 5 phương pháp thu thập, phân tích thông tin, kế thừa tài liệu và khảo sát thực tế.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là phần trọng tâm của khóa luận, bao gồm các nội dung chi tiết:

  • Đặc điểm khu vực nghiên cứu: Phân tích điều kiện tự nhiên huyện Sơn Dương (diện tích 788 km2, dân số 179.000 người, khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt độ trung bình 22,5°C, lượng mưa >1.500 mm/năm; 4 nhóm đất thổ nhưỡng gồm đất phù sa, đất dốc tụ, đất đỏ vàng Fs chiếm 77,22%, đất đỏ vàng nhạt) và tình hình kinh tế - xã hội.
  • Tổng quan Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương: Quá trình hình thành từ Nông trường 26/3 Tuyên Quang theo chương trình 1 triệu tấn đường của Chính phủ; vốn điều lệ 32 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 161,898 tỷ đồng; mô hình quản trị gồm Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban giám đốc, công ty con (Công ty TNHH MTV Phú Sơn, vốn điều lệ 5 tỷ đồng), 5 phòng chức năng và 4 phân xưởng (Cơ điện, Động lực, Đường, Xưởng sản xuất phân bón vi sinh).
  • Tình hình sản xuất: Khảo sát bước nhảy vọt về sản lượng và vùng nguyên liệu từ vụ 1996 - 1997 (800 ha, năng suất 16 tấn/ha, sản lượng 12.500 tấn) đến vụ 2013 - 2014 (10.065 ha, sản lượng đạt trên 523.000 tấn, liên kết vùng nguyên liệu tại 32 xã của huyện Sơn Dương và các huyện lân cận như Đoan Hùng, Lập Thạch).
  • Hiện trạng dây chuyền công nghệ 5 bước: Ép (nghiền trục) $\rightarrow$ Tinh chế nước mía (xử lý bằng SO2, vôi nâng pH lên 8 - 8,5, lọc chân không) $\rightarrow$ Chưng cất chân không nhiều tầng (cô đặc đạt 55 - 65% saccarozo) $\rightarrow$ Kết tinh đường massecuite $\rightarrow$ Phân tách ly tâm tách đường thành phẩm loại A, B, C và mật rỉ.
  • Đánh giá các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh:
    • Nước thải: Lượng nước sử dụng gấp 12 - 15 lần khối lượng nguyên liệu; tải lượng chất hữu cơ rất cao, nước bùn lọc có BOD5 từ 2.900 đến 11.000 mg/l, nước rửa xe đạt 15.000 mg/l; nước làm nguội máy móc nhiễm dầu nhớt và đường rò rỉ.
    • Khí thải và bụi: Khói lò hơi đốt bã mía/than phát thải CO2, bụi tro, khí than; nguy cơ rò rỉ khí độc SO2 từ lò xông lưu huỳnh; bụi đường phát tán tại khu vực sàng và đóng bao.
    • Mùi hôi và phế thải rắn: Mỗi ngày phát sinh hàng trăm tấn bã thải hữu cơ dễ lên men; tro lò chiếm 1,2% lượng bùn mía (chứa 71 - 72% SiO2 cùng Fe2O3, Al2O3, K2O...); bã mía và bã bùn đổ đống ngoài trời gặp mưa nắng bốc mùi hôi thối nồng nặc lan sang khu dân cư xung quanh.
  • Công nghệ và quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh: Phân tích giải pháp kỹ thuật sử dụng bã mía dư thừa, bã bùn lọc, tro lò hơi phối trộn cùng rỉ mật, khoáng vô cơ (NPK) và chế phẩm sinh học vi sinh vật theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 nhằm tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ khoáng chất lượng cao phục vụ bón lót và bón thúc cho cây mía.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược những kết quả đánh giá về nguồn thải tại nhà máy; khẳng định tính ưu việt của giải pháp sản xuất phân hữu cơ vi sinh trong việc giải quyết bài toán môi trường và giảm chi phí đầu tư phân hóa học cho nông dân; đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất thải và phát triển vùng mía nguyên liệu bền vững.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa cụ thể các số liệu phát thải và hiện trạng sản xuất tại Nhà máy đường Sơn Dương, cung cấp bức tranh chi tiết về các nguồn ô nhiễm công nghiệp mía đường:

Dòng nước thải phát sinh Nồng độ BOD5 trong nước thải đường thô (mg/l) Nồng độ BOD5 trong nước thải tinh chế (mg/l)
Nước rửa cây mía 20 – 30 -
Nước ngưng tụ 30 – 40 4 – 21
Nước bùn lọc 2.900 – 11.000 730
Nước thải than - 750 – 1.200
Nước rửa xe các loại - 15.000

Nguồn: Thống kê số liệu BOD5 ngành mía đường dẫn trong khóa luận

Về mặt giải pháp công nghệ, tác giả đã làm rõ quy trình chuyển hóa phế thải rắn của nhà máy thành phân bón hữu cơ vi sinh:

  • Tận dụng triệt để lượng bã mía dư thừa sau khi đốt lò hơi (năm 2014 là khoảng 10.000 tấn), lượng bùn lọc (chiếm 3,82 - 5,07% lượng mía ép, độ ẩm 75 - 77%), tro lò hơi (chứa 71 - 72% SiO2) và mật rỉ (chiếm ~5% lượng mía).
  • Khẳng định các lợi ích của giải pháp: giảm thiểu áp lực chất thải đổ đống gây mùi hôi thối tại xã Hào Phú; bổ sung nguồn mùn hữu cơ và vi sinh vật có ích giúp cải tạo đất dốc tụ, đất bạc màu tại địa phương; giảm dư lượng hóa chất độc hại và tiết kiệm chi phí mua phân bón hóa học cho người trồng mía.

Đóng góp của khóa luận nằm ở việc gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết quản lý môi trường với thực tiễn sản xuất công nghiệp tại một địa bàn cụ thể; phân tích rõ mô hình kinh tế tuần hoàn khép kín: Mía cây $\rightarrow$ Chế biến đường $\rightarrow$ Phế thải (bã mía, bùn, tro, rỉ mật) $\rightarrow$ Sản xuất phân hữu cơ vi sinh $\rightarrow$ Bón lại cho vùng nguyên liệu mía.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số điểm giới hạn được ghi nhận:

  • Thời gian tiến hành nghiên cứu thực tế tương đối ngắn (3 tháng, từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2014), trùng vào giai đoạn kết thúc vụ ép mía nên việc quan trắc liên tục các chỉ tiêu nước thải và khí thải ở các thời điểm vận hành công suất tối đa còn hạn chế.
  • Một số số liệu phân tích chuyên sâu về chất lượng phân bón thành phẩm và thử nghiệm đồng ruộng chủ yếu được kế thừa từ số liệu lưu trữ của công ty và các tài liệu tham khảo trước đó.

Hướng nghiên cứu mở rộng được định hình gồm:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá định lượng hiệu quả cải tạo đất và năng suất mía qua nhiều vụ thu hoạch liên tiếp khi bón các công thức phân hữu cơ vi sinh phối trộn khác nhau.
  • Nghiên cứu tối ưu hóa chế phẩm sinh học xử lý nhanh chất xơ cellulose trong bã mía nhằm rút ngắn hơn nữa thời gian ủ compost ở quy mô công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Công nghệ Sinh học: Tham khảo phương pháp tiếp cận đánh giá ô nhiễm tại nhà máy chế biến nông sản thực phẩm; cách thiết lập ma trận thu thập số liệu và khung pháp lý môi trường, tiêu chuẩn TCVN trong kiểm nghiệm chất lượng phân bón.
  • Kỹ sư vận hành và nhà quản lý tại các nhà máy chế biến mía đường: Tham khảo mô hình phân tách dòng thải, phương án cân bằng nhiệt lượng lò hơi và công nghệ tận dụng bã bùn, bã mía sản xuất phân bón hữu cơ nhằm đáp ứng các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ trọng các thành phần phụ phế phẩm phát sinh từ quá trình chế biến cây mía được xác định như thế nào?
Theo các số liệu được trích dẫn trong khóa luận, khi thu hoạch, cây mía gồm thân cây (60 - 65%) và ngọn, lá mía (35 - 40%). Khi đưa thân mía vào chế biến tại nhà máy, sản phẩm đường chỉ chiếm 9 - 10%, lượng phụ phế phẩm còn lại chiếm 29 - 38% bao gồm: bã mía (25 - 30%), bùn lọc và váng bọt (1 - 4%), mật rỉ (3 - 4%).

2. Nước thải ngành mía đường có đặc trưng gì và dòng thải nào có nồng độ ô nhiễm hữu cơ cao nhất?
Nước thải mía đường có đặc trưng là lượng phát sinh lớn (gấp 12 - 15 lần lượng nguyên liệu mía) và chỉ số BOD5 dao động rất mạnh. Trong đó, dòng thải có nồng độ ô nhiễm cao nhất là nước rửa xe các loại (BOD5 lên đến 15.000 mg/l) và nước bùn lọc trong dây chuyền đường thô (BOD5 dao động từ 2.900 đến 11.000 mg/l).

3. Tại sao nhà máy không sử dụng toàn bộ bã mía để đốt lò hơi mà phải chuyển sang sản xuất phân vi sinh?
Dựa trên tính toán nhiệt trị của bã mía (xấp xỉ 2.340 kcal/kg), nhà máy chỉ cần sử dụng khoảng 80% tổng lượng bã mía là đã cung cấp đủ 100% nhu cầu hơi và năng lượng cho toàn bộ dây chuyền sản xuất. Do đó, với công suất ép lớn, lượng bã mía dư thừa mỗi ngày lên đến hàng chục tấn (năm 2014 dư khoảng 10.000 tấn), đòi hỏi phải tận dụng để sản xuất phân vi sinh nhằm tránh ô nhiễm và tránh lãng phí.

4. Dây chuyền sản xuất đường tại Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương gồm những công đoạn chính nào?
Dây chuyền gồm 5 bước liên hoàn: Bước 1 - Ép (cắt nhỏ mía và dùng các bộ nghiền trục ép nước mía); Bước 2 - Tinh chế nước mía (dùng SO2, vôi nâng pH lên 8 - 8,5, gia nhiệt và lọc qua bộ lọc chân không); Bước 3 - Chưng cất chân không nhiều tầng (cô đặc nước mía đạt 55 - 65% saccarozo); Bước 4 - Kết tinh đường (chưng cất chân không tạo hỗn hợp massecuite); Bước 5 - Phân tách ly tâm (tách tinh thể đường A, B, C và lấy mật rỉ).

5. Khóa luận căn cứ vào những tiêu chuẩn quốc gia nào để kiểm nghiệm chất lượng phân bón hữu cơ vi sinh?
Khóa luận viện dẫn các tiêu chuẩn gồm: TCVN 5815:2001 (phương pháp thử phân NPK), TCVN 8559:2010 (xác định phốt pho hữu hiệu), TCVN 8560:2010 (xác định kali hữu hiệu), TCVN 9294:2012 (xác định cacbon hữu cơ tổng số bằng phương pháp Walkley-Black), TCVN 9290:2012 và TCVN 9291:2012 (xác định kim loại nặng chì và cadimi bằng phổ AAS), TCVN 4829:2008 / ISO 6579:2007 (kiểm tra vi sinh vật gây bệnh Salmonella spp).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã phản ánh toàn diện thực trạng phát sinh chất thải tại Nhà máy đường Sơn Dương trong bối cảnh vùng nguyên liệu mía tăng trưởng mạnh tại Tuyên Quang. Nghiên cứu đã làm rõ tính khả thi và hiệu quả của giải pháp công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ bã mía, bùn lọc và tro lò hơi, biến nguồn phế phẩm gây ô nhiễm thành vật tư nông nghiệp giá trị cao. Đây là tài liệu tổng kết có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý môi trường công nghiệp mía đường và ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển nông nghiệp bền vững.