Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Mỗi chất hữu cơ đều bị một nhóm VSV tương ứng phân huỷ một phần hay toàn bộ, các sản phẩm phân huỷ này lại được các loài khác phân huỷ tiếp, cứ như thế đến tận các chất vô cơ. Như vậy vật chất luôn luôn được tuần hoàn bởi hai loại quá trình đối lập nhau: sự tổng hợp chất hữu cơ từ chất vô cơ, và phân huỷ chất hữu cơ thành chất vô cơ.
Các quá trình phân huỷ này chủ yếu do vi sinh vật thực hiện, ở bất kỳ đâu có sự hiện diện của chúng: trong đất, trong nước, trong cơ thể các sinh vật khác.[13] - Vi sinh vật phân giải xenlulozo: xenlulozo là hợp phần cơ sở của sinh khối thực vật, được tạo thành nhiều hơn tất cả các chất tự nhiên khác cộng lại và chiếm khoảng một nửa sinh khối do quang hợp tạo thành. Xác thực vật nằm lại trong đất và rơi trở lại đất trung bình chứa 45%, riêng ở cây bông là 90% xenlulozo. Vì thế bên cạnh CO2, xenlulozo cũng chiếm một vị thế trung tâm trong vòng tuần hoàn của cacbon.[13] Trong thiên nhiên có nhiều nhóm VSV có khả năng phân hủy xenlulozo như có hệ enzim xenlulozo ngoại bào. Trong đó vi nấm là nhóm có khả năng phân giải mạnh vì nó tiết ra môi trường một lượng lớn enzim có đầy đủ các thành phần.
Nấm mốc có hoạt tính phân giải xenlulozo, đáng chú ý là Tricoderma. Hầu hết các loài thuộc Tricoderma sống hoại sinh trong đất, rác và có khả năng phân hủy xenlulozo. Trong nhóm vi nấm ngoài Tricoderma còn có rất nhiều giống khác có khả năng phân giải xenlulozo như Aspergillus, Fusarium, Mucor… Nhiều loại vi khuẩn cũng có khả năng phân hủy xenlulozo, tuy nhiên cường độ không mạnh bằng vi nấm. Nguyên nhân là do số lượng enzim tiết ra môi trường của vi khuẩn thường nhỏ hơn, thành phần các enzim không đầy n 5 đủ.
Thường ở trong đống ủ rác có ít loài vi khuẩn có khả năng tiết ra đầy đủ bốn loại enzim trong hệ enzim xenlulozo. Nhóm này tiết ra một loại enzim, nhóm khác tiết ra loại khác, chúng phối hợp với nhau để phân giản cơ chất trong mối quan hệ hỗ sinh. Nhóm vi khuẩn hiếu khí bao gồm: Clostridium và đặc biệt là nhóm vi khuẩn sống trong dạ cá của động vật nhai lại. Chính những vi khuẩn này mà trâu bò có thể sử dụng được xenlulozo trong rơm rạ làm thức ăn.
Đó chính là những cầu khuẩn thuộc chi Ruminococus có khả năng phân hủy xenlulozo thành đường và các axit hữu cơ. Ngoài vi nấm và vi khuẩn, xạ khuẩn và niêm vi khuẩn cũng có khả năng phân hủy xenlulozo. Người ta thường sử dụng xạ khuẩn, đặc biệt là chi Streptomyces trong việc phân hủy rác thải sinh hoạt. Những xạ khuẩn này thường thuộc nhóm ưa nóng, sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45- 500C rất thích hợp với quá trình ủ rác thải.
(Trần Đức Hạ và CS, 2011) [2] - Vi sinh vật phân giải protein: Trong môi trường rác ủ đống, nitơ tồn tại ở các dạng khác nhau, từ nitơ phân giải ở dạng khí cho đến các hợp chất hữu cơ phức tạp có trong cơ thể động vật, thực vật và con người. Trong cơ thể sinh vật, nitơ tồn tại chủ yếu dưới dạng các hợp chất đạm như protein và axit amin. Khi cơ thể sinh vật chết đi, lượng ni tơ hữu cơ này tồn tại trong đất (rác thải). Dưới tác dụng của các nhóm VSV hoại sinh, protein được phân giải thành các axit amin.
Các axit amin này lại được một nhóm vi sinh vật phân giải thành NH3 hoặc NH4+ gọi là nhóm vi khuẩn amôn hóa. Quá trình này được gọi là sự khoáng hóa chất hữu cơ vì qua đó, nitơ hữu cơ được chuyển thành dạng nitơ khoáng. Dạng sẽ được chuyển hóa thành dạng NO3- như nhóm vi khuẩn nitrat hóa. Các hợp chất nitrat lại được chuyển hóa thành dạng N2 phân tử.
Khí N2 sẽ được cố định trong tế bào vi khuẩn cố định Ni tơ. Do đó vòng tuần hoàn N2 khép kín. Trong hầu hết các khâu chuyển hóa của vòng tuần hoàn đều có sự tham gia của các VSV khác nhau. Nếu sự hoạt động của một nhóm nào đó bị ngừng lại thì toàn bộ sự chuyển hóa của vòng tuần hoàn n 6 sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Trong quá trình compost, nhóm vi khuẩn chính phân giải protein là vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn cố định ni tơ. Nhóm vi khuẩn nitrit hóa bao gồm bốn chi khác nhau: Nitrozomonas, Nitrozocystic, Nitrozolobus và Nitrosospira, chúng đều thuộc loại tự dưỡng bắt buộc, không có khả năng sống trên môi trường thạch, bởi vậy phân lập chúng rất khó, phải dựng Silicagen thay cho thạch. Nhóm vi khuẩn nitrat hóa tiến hành oxi hóa NO-2 thành NO-3 bao gồm 3 chi khác nhau: Nitrobacter, Nitrospira và Nitrococcus.Quá trình oxi hóa NO-2 thành NO-3 được thực hiện bởi nhóm vi khuẩn Nitrat hóa. Chúng cũng là những VSV tự dưỡng có khả năng oxi hóa NO-2 thành năng lượng.
Năng lượng này dùng để đồng hóa CO2 tạo thành đường. Nhóm vi khuẩn cố định Nitơ có trong môi trường rác ủ là các nhóm: Azotobater – là một loại vi khuẩn hiếu khí, không sinh bào tử, có khả năng cố định nitơ phân tử, sống tự do trong đất (rác). Clostridium là một loại vi khuẩn kị khí sống tự do trong rác, có khả năng hình thành bào tử, loại phổ biến nhất là Clostridium pastenisium có hình que ngắn, khi còn non có khả năng di động bởi tiên mao. Khi già mất khả năng di động.
Khi hình thành bào tử thường có hình con thoi do bào tử hình thành lớn hơn kích thước tế bào. Clostridium có khả năng đồng hóa nhiều nguồn cacsbon khác nhau như các loại đường, rượu, tinh bột. Nó thuộc loại kỵ khí nên các sản phẩm trao đổi chất của nó là các axit hữu cơ, butanol, etanol, axeton, đó là các sản phẩm chưa được oxi hóa hoàn toàn. (Trần Đức Hạ và CS, 2011) [2] - Vi sinh vật phân giải tinh bột: Tinh bột là chất dự trữ chiếm ưu thế ở thực vật.
Nói chung nó tồn tại ở dạng các hạt nhỏ có thể hình cầu, hình thấu kính hoặc hình trứng và có cấu trúc lớp rõ ràng. Tinh bột thực vật được cấu thành từ cả hai glucan là amiloz (15-27%)và amilopectin. Amiloz tan trong nước nóng mà không bị trương và tạo thành màu xanh đặc trưng với iot. Nó gồm những chuỗi không phân nhánh của D - glucoz.
Các chuỗi đó được liên n 7 kết với nhau theo kiểu α - glucosit ở vị trí 1 - 4 và được cuốn hình ốc; mức độ trùng hợp là 200 - 5000. Amilopectin thì trương lên trong nước và khi được đun nóng thì tạo thành hồ, với iot thì cho màu tím đến màu nâu. (Ngô Tự Thành, 2010) [13] Trong rác bể ủ có nhiều loại VSV có khả năng phân giải tinh bột. Một số VSV có khả năng tiết ra môi trường đầy đủ các loại enzim trong hệ enzim amilaza.
Trong nhóm vi khuẩn có một số loài thuộc chi Bacillus, Cytophaza, Pseudomonas,… Xạ khuẩn cũng có một số các chi Aspergillus, Fusarium, Rhizopus,… Trong nhóm vi khuẩn cũng có một số loài thuộc chi Bacillus, Cytophaza, Pseudomonas,… Xạ khuẩn cũng có một số chi có khả năng phân hủy tinh bột. Đa số các VSV không có khả năng tiết đầy đủ hệ enzim amilaza phân hủy tinh bột. Chúng chỉ có thể tiết ra môi trường một hoặc một vài men trong hệ đó. Ví dụ như các loài Aspergillus candidus, Pasterianum…chỉ có khả năng tiết ra môi trường một loại enzim-amilaza.
Một số loài khác chỉ có khả năng tiết ra môi trường enzim gluco amilaza. Các nhóm này cộng tác với nhau trong quá trình phân hủy tinh bột thành đường. Trong sản xuất người ta thường dùng các nhóm VSV có khả năng phân hủy tinh bột. Ví dụ trong chế biến rác thải hữu cơ người ta cũng sử dụng những chủng VSV có khả năng phân hủy tinh bột để phân hủy tinh bột có trong thành phần rác hữu cơ.
(Trần Đức Hạ và CS, 2011) [2] - Sự hoạt động của các vi sinh vật trong đống ủ: Các quá trình sinh hóa diễn ra trong đống ủ rác chủ yếu là do hoạt động của các VSV sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng cho các hoạt động sống của chúng. Các loại vi khuẩn và nấm đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân giải các hợp chất. Các loại VSV phát triển tốt trong điều kiện môi trường được xác định như sau: n 8 Bảng 1.1: Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến vi sinh vật Yếu tố môi trường Khoảng xác định Nhiệt độ ,0C 0-70 Nồng độ muối, % NaCl 0-3 pH 1,0 – 1,2 Nồng độ oxi, % 0-21 Áp suất, mPa 0-115 Ánh sáng Bóng tối, ánh sáng mạnh Nguồn: Trần Đức Hạ, CS (2011). Cơ sở hóa học và vi sinh vật học trong kỹ thuật môi trường.
Các VSV tham gia vào quá trình phân giải tại các đống ủ rác được chia thành ba nhóm chủ yếu sau đây: + Các VSV ưa ẩm: Phát triển mạnh ở nhiệt độ từ 0 – 200C + Các VSV ưa ấm: Phát triển mạnh ở nhiệt độ từ 20 – 400C + Các VSV ưa nóng: Phát triển mạnh ở nhiệt độ 40 – 700C Trong quá trình ủ hiếu khí rác thải hữu cơ, thành phần VSV, kèm theo đó là nhiệt độ trong đống ủ luôn thay đổi. Sự phát triển của các loại VSV theo nhiệt độ được thể hiện theo đồ thị sau: Thời kỳ đầu của quá trình ủ rác, quá trình hiếu khí được diễn ra, giai đoạn này các chất hữu cơ dễ bị oxi hóa sinh hóa thành dạng đơn giản như protein, tinh bột, chất béo các loại một lượng nhất định chất xenlulozo. Trong quá trình này, các VSV tiếp nhận một lượng năng lượng rất lớn và vì thế có tồn tại một lượng năng lượng đáng kể ở dạng nhiệt. Lượng năng lượng nhiệt được tạo thành bên trong lòng đống ủ được tạo ra nhiều hơn so với lượng nhiệt được thoát ra bên ngoài và do đó nhiệt độ bên trong các đống ủ được tăng lên.
Giá trị nhiệt độ tăng tới 60-700C, kéo dài trong suốt thời gian khoảng 30 ngày. Ở khoảng nhiệt độ này, các phản ứng hóa học diễn ra sẽ trội hơn các n 9 phản ứng VSV bởi vì hầu hết chủng VSV không phát triển được ở nhiệt độ 700C. Cơ sở thực tiễn Theo đánh giá của Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT), năm 2013 nhu cầu tiêu thụ phân bón cả nước cần 10,325 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó, khả năng sản xuất phân bón trong nước là 8 triệu tấn, còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu.
Tuy nhiên, việc nhập khẩu phân bón hiện nay đang có nhiều bất cập.