CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về bảo hiểm thương mại 1. Khái niệm, bản chất và vai trò của bảo hiểm thương mại: 1. Khái niệm của bảo hiểm thương mại: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Bảo hiểm là một ngành dịch vụ đang phát triển rất mạnh mẽ và thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong đời sống cũng như tác động tới các ngành khác trong xã hội.
Cho đến nay người ta vẫn chưa thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo hiểm bắt đầu từ đâu. Tuy nhiên tất cả mọi người đều công nhận rằng: Các hoạt động sơ khai mang tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó đã đáp ứng nhu cầu bảo vệ cuộc sống con người ở mọi lúc mọi nơi. Khi xã hội phát triển ngày càng nhanh, các nhu cầu cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời gian.
Theo đó, các hoạt động để đáp ứng nhu cầu ấy cũng phát triển một cách tương ứng. các hoạt động này dần dần được quy định lại theo các tiêu chuẩn khác nhau một cách chính thức, hợp pháp và gọi chung là Bảo Hiểm. Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của nghành bảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế, ngày càng chứng tỏ vai trò của mình đối với nền kinh tế trong nước.
Cho đến bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm thương mại mà người ta chỉ đưa ra các quan điểm về bảo hiểm thương mại theo các cách tiếp cận khác nhau: Theo người Pháp, “Bảo hiểm thương mại là một hoạt động thông qua đó một cá nhân hay tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả nếu rủi ro xảy ra nhờ vào khoản đóng góp cho mình hay cho người khác. Khoản bồi thường hoặc chi trả này có một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này có trách nhiệm trước các rủi ro và bù trừ chúng theo đúng quy luật thống kê”. 6 Bằng cách nhìn nhận bảo hiểm như một cơ chế chuyển giao rủi ro,tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ cho rằng: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”. Theo Luật kinh doanh Bảo hiểm số 24/2000/QH10, “Bảo hiểm thương mại (còn được gọi là Bảo hiểm rủi ro hoặc Bảo hiểm kinh doanh) là một thỏa thuận, qua đó, bên tham gia Bảo hiểm cam kết trả cho DNBH một khoản tiền gọi là phí Bảo hiểm; ngược lại, DNBH cũng cam kết sẽ chi trả hoặc bồi thường một khoản tiền khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất”.
Bản chất của bảo hiểm thương mại: Cơ chế hoạt động của bảo hiểm tạo ra một “sự đóng góp của số đông vào rủi ro của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tích hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm xoay quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm như một hình thức đặc biệt của các khoản dự trữ bằng tiền. Như vậy, về bản chất, bảo hiểm thương mại là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người có khả năng cùng gặp một loại rủi ro dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người cũng có khả năng gặp tổn thất đó thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Vai trò của bảo hiểm thương mại: Trong hoạt động kinh tế - xã hội, bảo hiểm thương mại phát huy rất nhiều tác dụng: Vai trò kinh tế của bảo hiểm thương mại: Bù đắp tổn thất, khắc phục thiệt hại từ những rủi ro là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thương mại nói riêng.
Bảo hiểm giúp hạn 7 chế đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra, nhờ đó giảm thiểu những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội. Sử dụng hiệu quả khoản tiền nhàn rỗi: Trong cuộc sống, mỗi cá nhân luôn phải tính đến những rủi ro có thể gặp phải và muốn chủ động trong tình huống xấu nhất, từ đó để dành một khoản dự phòng để sử dụng. Đây là khoản tiền nhàn rỗi, nếu xét trên toàn xã hội thì sẽ là khoản tiền không nhỏ nhưng sinh lợi lớn nếu được sử dụng đầu tư. Việc tham gia bảo hiểm giúp đề phòng rủi ro xảy ra với mức tiền mỗi năm thấp hơn rất nhiều.
Tạo nên các quỹ tiền tệ lớn để đầu tư vào lĩnh vực khác đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế: Do đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm là phí bảo hiểm thu trước, việc bồi thường và chi trả thường phát sinh sau một thời gian, khi có rủi ro xảy ra, nên các khoản tiền này thường có thời gian tạm thời nhàn rỗi. Thông qua hoạt động bảo hiểm mà một lượng tiền lớn phân tán, rải rác các nơi được tập trung về một nơi và hình thành quỹ tiền tệ lớn. Từ đó DNBH có thể sử dụng để đầu tư mang về lợi nhuận. Giúp tăng thu ngân sách nhà nước: Nhờ hoạt động bảo hiểm mà ngân sách nhà nước có thể hạn chế được các khoản trợ cấp lớn để bù đắp khi tổn thất xảy ra.
Đồng thời hàng năm doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm còn đóng góp thêm các khoản như thuế thu nhập doanh nghiệp, … Từ đó tăng nguồn thu, góp phần ổn định cho ngân sách nhà nước, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước có thêm các khoản đầu tư. Góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư: Bảo hiểm giúp nhà đầu tư yên tâm hơn khi bỏ vốn đầu tư. Việc bồi thường hay chi trả bảo hiểm một phần giúp các nhà đầu tư bảo toàn tài sản, tiền vốn của mình trước rủi ro. Thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh hoạt động kinh tế, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Vai trò xã hội của bảo hiểm thương mại: 8 Tác động đến công tác phòng tránh rủi ro, hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn xã hội: Các tổ chức bảo hiểm có trách nhiệm nghiên cứu rủi ro, thống kê tai nạn- tổn thất, xác định nguyên nhân đồng thời đề ra và phối hợp các đơn vị có liên quan thực hiện kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu tổn thất. Tạo nên lối sống tiết kiệm, mang đến trạng thái an toàn về tinh thần cho xã hội. Tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động. Phân loại bảo hiểm thương mại 1.
Phân loại theo phương thức quản lý: - Bảo hiểm tự nguyện: Việc tham gia bảo hiểm hay không phụ thuộc vào nhận thức và nhu cầu của người tham gia bảo hiểm. Các DNBH có đáp ứng được hay không cũng phụ thuộc vào khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của công ty đó. - Bảo hiểm bắt buộc: Bao gồm các sản phẩm bảo hiểm mà luật pháp có những quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền tối thiểu mà tổ chức hay cá nhân tham gia bảo hiểm và các DNBH có nghĩa vụ phải thực hiện 1. Phân loại theo kỹ thuật bảo hiểm: - Bảo hiểm theo kỹ thuật phân chia là Bảo hiểm có thời hạn ngắn (thường là 1 năm) bảo đảm cho các rủi ro có tính chất tương đối ổn định và độc lập với tuổi thọ của con người.
Vì thế còn được gọi là Bảo hiểm phi nhân thọ. - Bảo hiểm theo kỹ thuật tồn tích: có đặc trưng là thời gian dài, quỹ được tích tụ nhiều năm mới được sử dụng để chi trả, thường đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi rõ rệt theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ của con người. Phân loại theo đối tượng được bảo hiểm: - Bảo hiểm tài sản: đối tượng được bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động của người được bảo hiểm) 9 - Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo luật pháp quy định - Bảo hiểm con người: đối tượng được bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức khỏe của con người hoặc các sự kiện liên quan và có ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Các nguyên tắc hoạt động trong Bảo hiểm thương mại: 1.
Nguyên tắc số đông bù số ít: Hoạt động Bảo hiểm thương mại chính là một hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, trong đó DNBH nhận các khoản tiền gọi là phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm để có khả năng sẽ phải trả khoản tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Nguyên tắc quan trọng nhất là hoạt động bảo hiểm thương mại phải dựa trên nguyên tắc: Số đông bù số ít – tức là rủi ro có thể xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy. Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm: Hoạt động của DNBH dựa trên nguyên tắc bù đắp thiệt hại tài chính cho người tham gia bảo hiểm và luôn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, chính vì vậy không phải với bất kỳ rủi ro nào DNBH cũng chấp nhận các bảo đảm. Các DNBH sẽ chỉ chấp nhận bồi thường các rủi ro có thể bảo hiểm và từ chối bảo hiểm trong các trường hợp rủi ro không được bảo hiểm.
Nguyên tắc phân tán rủi ro: Điều quan trọng trong hoạt động của các DNBH là khả năng chi trả bảo hiểm trong trường hợp có rủi ro xảy ra. Chính vì vậy điều cần thận trọng trong hoạt động của DNBH đó là không nhận những rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty. Tuy nhiên những nguồn phí từ trường hợp này thường lớn, nếu từ chối sẽ gây tổn thất về lợi nhuận đối với công ty trong trường hợp không có rủi ro xảy ra.