Chương 1: Những vấn đề lý luận về thu hút FDI có chọn lọc trong phát triển kinh tế của các quốc gia Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng thu hút FDI có chọn lọc vào Việt Nam trong thời gian qua Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm thu hút FDI có chọn lọc vào Việt Nam Cuối cùng người viết xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo nhiệt tình của PGS.TS Vũ Hoàng Nam cùng toàn thể bạn bè, gia đình đã ủng hộ giúp đỡ người viết trong suốt thời gian qua để người viết có thể hoàn thành luận văn này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực nhưng do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian còn hạn hẹp nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất Luan van 5 mong nhận được sự sẻ chia, thông cảm cũng như ý kiến đóng góp của người đọc để luận văn được hoàn thiện hơn. Luan van 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI CÓ CHỌN LỌC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA 1.
Khái quát chung về FDI 1. Khái niệm Cho tới nay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, tùy theo góc độ nhìn nhận khác nhau mà có rất nhiều khái niệm được đưa ra. Theo tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), “Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (lớn hơn 5 năm), quyền kiểm soát: nhà đầu tư nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên”(OECD 2008).
Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”(WTO 1996) Luật đầu tư 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra định nghĩa về FDI nhưng theo khoản 14 điều 3 của Luật đầu tư năm 2014 có quy định như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” (Luật đầu tư 2014). Từ những quan niệm trên ta có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhằm thu lợi nhuận. Các hình thức FDI Các hình thức FDI được chia như sau: Luan van 7 - Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là hình thức đầu tư được kí kết giữa hai bên hoặc là nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại nước nhận đầu tư, trong đó quy định trách nhiệm chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay hình thành một pháp nhân mới nào. - Hình thức công ty (Doanh nghiệp) liên doanh: Doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa các bên nước ngoài và chủ nhà trong đó các bên cùng góp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ góp vốn.
- Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm. Cũng giống như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng hình thành pháp nhân mới. Ngoài ra, FDI cũng được phân theo các hình thức khác như: Xây dựng- chuyển giao- Kinh doanh (BTO), Xây dựng- Kinh doanh- chuyển giao (BOT), Xây dựng- chuyển giao (BT)… 1. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Qua định nghĩa trên cho thấy bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư, là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh của chủ đầu tư nước ngoài.
Bởi thế, đầu tư trực tiếp nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung. Ngoài ra, nó còn có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với các hình thức khác như sau : Thứ nhất, FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì vậy mả chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư nên thực hiện kiểm tra, giám sát và có chọn lọc khi tiếp nhận các dự án FDI. Thứ hai, tỷ lệ góp vốn sẽ quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà đầu tư cũng như phân chia lợi nhuận và rủi ro.
Tùy theo mỗi quốc gia mà tỷ lệ vốn tối thiểu các nhà đầu tư nước ngoài phải góp trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ sẽ khác nhau. Đây là hình thức đầu tư mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về mặt chính trị. Thứ ba, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ. Các nhà đầu tư thường mang theo công nghệ của nước họ tới các nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc Luan van 8 mang máy móc, thiết bị, bằng phát minh sáng chế… Với các nước tiếp nhận FDI là các nước kém hoặc đang phát triển thì điều này rất có ý nghĩa.
Việc được tiếp nhận công nghệ cao, hiện đại từ nước khác sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế xã hội của nước tiếp nhận đầu tư. Tác động của FDI tới nước tiếp nhận đầu tư Trên thế giới, nhiều nước nhờ nguồn vốn FDI khổng lồ đã có những bước nhảy vọt, thoát khỏi tình trạng nghèo đói và trở thành các nước công nghiệp mới, các cường quốc kinh tế trên thế giới. Dòng vốn FDI đã có những tác động tích cực tới nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, tuy nhiên do mục tiêu cuối cùng của các chủ đầu tư là nắm quyền kiểm soát và đạt lợi nhuận tối đa nên bên cạnh những tác động tích cực thì các dự án FDI cũng gây ra không ít tác động tiêu cực tới nền kinh tế, xã hội, môi trường của nước tiếp nhận đầu tư. Tác động tích cực tới nước tiếp nhận đầu tư Về kinh tế Bổ sung nguồn vốn, tăng thu ngân sách cho nước tiếp nhận đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nguồn vốn đầu tư cho phát triển được lấy từ 2 nguồn là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn trong nước được hình thành từ tích lũy và đầu tư. Nguồn vốn nước ngoài được hình thành từ các khoản viện trợ, cho vay, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp từ nước ngoài. Đối với các quốc gia lạc hậu, kém phát triển hay đang phát triển thì nguồn vốn tích lũy trong nước còn thấp nên các dự án sẽ góp phần bổ sung nguồn vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động… Việc tiếp nhận các nguồn vốn FDI sẽ là cú huých để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước tiếp nhận đầu tư.
Mặc dù các doanh nghiệp FDI được hưởng nhiều ưu đãi về các chính sách thuế quan tuy nhiên các dự án FDI vẫn đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước nhờ vào các nguồn thu từ việc cho thuê sử dụng đất, nước, thuế thu nhập doanh nghiệp… Các dự án FDI thông thường có mối liên kết kinh doanh trao đổi quốc tế nên cũng góp phần cân đối ngoại tệ cho nước tiếp nhận đầu tư. Luan van 9 Góp phần chuyển giao và phát triển công nghệ Công nghệ là yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt với các quốc gia kém phát triển và đang phát triển, công nghệ sẽ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp các nước đang phát triển theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển dựa vào lợi thế của nước đi sau – được kế thừa những thành tựu khoa học kỹ thuật của nhân loại. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học- công nghệ nâng cao năng lực sản xuất và nâng cao năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư.
FDI tạo ra những tác động tích trong việc phát triển công nghệ ở nước tiếp nhận đầu tư như sau: - Chuyển giao công nghệ: Khi thực hiện các dự án FDI, các chủ đầu tư không chỉ mang theo vốn mà còn mang theo cả công nghệ của họ sang nước tiếp nhận đầu tư để phục vụ hoạt động sản xuất của họ thông qua việc di chuyển máy móc, trang thiết bị, bí kíp công nghệ sang nước tiếp nhận đầu tư. Việc chuyển giao công nghệ thông qua các dự án FDI góp phần rút ngắn khoảng cách công nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư. Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia, dưới hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một công ty xuyên quốc gia và chuyển giao giữa các chi nhánh của công ty xuyên quốc gia. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của công ty xuyên quốc gia sang nước chủ nhà, nhất là các nước đang phát triển được thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, áp dụng công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing.
Cùng với hình thức chuyển giao trên, chuyển giao công nghệ giữa các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây.