Mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về việc làm cho lao động ở nông thôn - Chƣơng 2: Thực trạng việc làm của lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc giai đoạn 2008 - 2012 - Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc đến năm 2020 - Kết luận 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN 1. Việc làm và các nhân tố ảnh hƣởng 1.1 Phân loại việc làm (công việc) * Phân loại công việc theo mức độ sử dụng thời gian lao động + Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là ngƣời có công việc đầy đủ là ngƣời đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên việc xác định số ngƣời có việc làm theo khái niệm trên chƣa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lƣợng của công việc làm. Trên thực tế nhiều ngƣời lao động đang có việc làm nhƣng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp thu nhập cũng thấp đang phổ biến ở lao động nông thôn.
Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm ngƣời có việc làm và cần đƣợc bổ sung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ. Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: Mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập. Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi ngƣời lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định (Việt Nam hiện nay qui định đủ 36 giờ một tuần), mặt khác việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lƣơng tối thiểu cho ngƣời lao động (nƣớc ta hiện nay qui định mức lƣơng tối thiểu cho một ngƣời lao động hƣởng lƣơng ngoài ngân sách nhà nƣớc trong một tháng là: 1. Vậy với những ngƣời làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền lƣơng tối thiểu hiện hành là những ngƣời có việc làm đầy đủ.
+ Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ nhƣ trên thì thiếu việc làm là những việc làm không tạo điều kiện cho ngƣời lao động tiến hành nó sử dụng hết quĩ thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dƣới mức lƣơng tối thiểu và ngƣời tiến hành việc làm không đầy đủ là ngƣời thiếu việc làm. 17 Theo tổ chức lao động thế giới (ILO), thì khái niệm thiếu việc làm đƣợc biểu hiện dƣới hai dạng sau. - Thiếu việc làm vô hình: Là những ngƣời có đủ việc làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhƣng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thƣờng có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. Thƣớc đo của thiếu việc làm vô hình là: Thu nhập thực tế K= x1 Mức lƣơng tối thiểu hiện hành - Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tƣợng ngƣời lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thƣợc đo của thiếu việc làm hữu hình là: Số giờ làm việc thực tế K= x100% Số giờ làm việc theo quy định - Khái niệm về thất nghiệp: Theo Luật Lao động nƣớc ta sửa đổi và bổ sung năm 2002: “Ngƣời thất nghiệp là những ngƣời trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhƣng chƣa tìm đƣợc việc làm”. Từ đây có thể rút ra đƣợc tiêu chuẩn để xác định ngƣời là thất nghiệp: + Hiện đang chƣa có việc làm + Có khả năng làm việc + Đang muốn tìm và có nhu cầu làm việc 18 Có nhiều tiêu thức để phân loại thất nghiệp: + Căn cứ vào thời gian thất nghiệp mà ngƣời ta chia thất nghiệp ra thành thất nghiệp dài hạn và thất nghiệp ngắn hạn. Thất nghiệp dài hạn là thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc tính từ thời điểm điều tra trở về trƣớc. Ở nông thôn tình trạng thất nghiệp không nhiều nhƣng tình trạng thiếu việc làm thì phổ biến.
* Những ngƣời không thuộc lực lƣợng lao động trong độ tuổi lao động (còn được gọi là dân số không hoạt động kinh tế) bao gồm: Toàn bộ số ngƣời chƣa đủ từ 15 tuổi, những ngƣời ngoài tuổi lao động trở lên nên không thuộc bộ phận ngƣời có việc làm và thất nghiệp. Những ngƣời không hoạt động kinh tế vì các lý do: Đang đi học, đang làm công việc nội trợ cho gia đình, già cả ốm đau kéo dài, tàn tật không có khả năng lao động, tình trạng khác. - Người thất nghiệp Ngƣời thất nghiệp là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ tham khảo không có việc làm nhƣng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc nhƣng không tìm đƣợc việc. * Trong khi phân loại cơ cấu các thị trƣờng lao động hiện nay, thất nghiệp phân ra thành ba loại khác nhau: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp theo chu kỳ và thất nghiệp có tính cơ cấu.
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con ngƣời giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thậm chí trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm, vẫn luôn có một số chuyển động nào đó do ngƣời ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trƣờng hoặc chuyển đến một nơi sinh sống mới. Hay phụ nữ có thể trở lại lực lƣợng lao động sau khi sinh con. Do những công nhân thất nghiệp tạm thời thƣờng chuyển công việc hoặc tìm những công việc mới tốt hơn, cho nên ngƣời ta 19 thƣờng cho rằng họ là những ngƣời thất nghiệp “tự nguyện”.
- Thất nghiệp có tính cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại lao động tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác giảm đi, trong khi đó mức cung không đƣợc điều chỉnh nhanh chóng. Nhƣ vậy trong thực tế xảy ra sự mất cân đối trong các ngành nghề hoặc các vùng do một số lĩnh vực phát triển so với một số lĩnh vực khác và do quá trình đổi mới công nghệ. -Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và không ổn định, những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhƣng cung lao động cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ. - Nguyên nhân thất nghiệp: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trƣớc hết là do mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trƣờng lao động.
Xét quan hệ cung cầu về lao động trên thị trƣờng xảy ra ba trạng thái: Nếu cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tất yếu sẽ dẫn đến thất nghiệp. Nếu cung và cầu về lao động cân bằng thì tình trạng thất nghiệp gần nhƣ không có. Nếu cung về lao động nhỏ hơn cầu thì sẽ không có thất nghiệp. Tuy nhiên đây là tình trạng rất ít xảy ra.
Nguyên nhân của thất nghiệp còn do tỉ lệ thời gian lao động ở nông thôn sử dụng chƣa hết. Điều này dẫn đến lao động trong nông nghiệp dôi dƣ nhiều trong khi không có việc để làm. Tình trạng di dân tự do từ các tỉnh, các vùng lân cận vào các đô thị lớn cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm. Theo xu thế chung thì sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các đô thị là lợi thế tạo ra sự hấp dẫn và sức hút làn sóng di dân từ các vùng nông thôn và các vùng lân 20 cận đến thành thị để làm ăn sinh sống sẽ tăng lên.
Những bất cập trong đào tạo và chất lƣợng nguồn nhân lực cũng góp phần làm xuất hiện và gia tăng tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm. Do quá trình đào tạo không gắn với nhu cầu sử dụng và chất lƣợng nguồn nhân lực không đáp ứng đƣợc với những đòi hỏi của nền kinh tế và những yêu cầu của thị trƣờng lao động. Một nguyên nhân gây nên tình trạng thất nghiệp nữa là do chính sách giảm biên chế và sắp xếp lại cơ cấu trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Do sự phát triển mạnh mẽ và tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã biến nó trở thành lực lƣợng lao động trực tiếp của nền kinh tế - xã hội, làm cho năng suất lao động tăng cao đã đẩy hàng loạt ngƣời lao động ra khỏi quá trình sản xuất (việc cơ giới hoá trong nông nghiệp trên địa bàn đã thay thế hàng nghàn lao động thủ công).
Ngoài ra, thất nghiệp còn có nguyên nhân là do tâm lý của ngƣời lao động trong việc lựa chọn ngành nghề, không chấp nhận làm những công việc nặng nhọc, thu nhập thấp. * Phân loại việc làm theo vị trí lao động của ngƣời lao động. +Việc làm chính: Là công việc mà ngƣời lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. +Việc làm phụ: Là công việc mà ngƣời lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.2 Việc làm của lao động nông thôn phụ thuộc nhân tố nào: 1.1 Nhân tố chủ quan - Trình độ chuyên môn và sức khỏe là hai yếu tố đầu tiên ảnh hƣởng đến quá trình tìm việc làm của lực lƣợng lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng.
21 - Hoàn cảnh xuất thân ngƣời lao động cũng là nhân tố ảnh hƣởng quá trình tìm việc làm của lao động nông thôn. Ngƣời lao động có tuổi trẻ xuất thân trong gia đình khá giả sẽ có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn hơn đối với ngƣời lao động thuộc hộ nghèo. - Giới tính ngƣời lao động cũng ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình tìm việc làm của lao động nông thôn. Thể hiện nhƣ, ngƣời lao động nông thôn có trình độ thấp công việc của họ chủ yếu là lao động chân tay cần sức khỏe tốt.
Do đó, nam giới thƣờng kiếm việc làm dễ hơn đối với lao động nữ giới, tỷ lệ thời gian lao động hữu ích của nam giới cao hơn nữ giới.Yếu tố khách quan - Dân số: Số lƣợng và mức tăng dân số gây nên sức ép về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động.