phần mở đầu, kết luận – kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục, chất lƣợng giáo dục và mức độ hài lòng của khách hàng (học viên). + Chƣơng 2: Thực trạng về mức độ hài lòng của sinh viên tại trƣờng Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng. + Chƣơng 3: Giải pháp làm tăng mức độ hài lòng của sinh viên tại trƣờng Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng. 3 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC, CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC VÀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1.
Những vấn đề cơ bản về giáo dục đại học tại trƣờng Cao đẳng Cộng đồng ở Việt Nam 1. Hệ thống giáo dục Việt Nam Theo Điều 4 – Luật Giáo dục đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam họp ở kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI ban hành vào ngày 14 tháng 7 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 thì hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ. Theo quy định tại điều 7 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 thì Cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) Trƣờng cao đẳng; b) Trƣờng đại học, học viện; c) Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); d) Viện nghiên cứu khoa học đƣợc phép đào tạo trình độ tiến sĩ.
Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đƣợc tổ chức theo các loại hình sau đây: - Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nƣớc, do Nhà nƣớc đầu tƣ, xây dựng cơ sở vật chất; - Cơ sở giáo dục đại học tƣ thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tƣ nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tƣ nhân hoặc cá nhân đầu tƣ, xây dựng cơ sở vật chất. Cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài gồm: - Cơ sở giáo dục đại học có 100 vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài; 4 - Cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và nhà đầu tƣ trong nƣớc. Mục tiêu của giáo dục đại học 1. Mục tiêu chung: - Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; - Đào tạo ngƣời học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tƣơng xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trƣờng làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân.
Mục tiêu cụ thể đào tạo tr nh độ cao đ ng, đại học, thạc s , ti n s : - Đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết đƣợc tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thƣờng thuộc ngành đƣợc đào tạo; - Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành đƣợc đào tạo; - Đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền tảng, có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt động nghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đƣợc đào tạo; - Đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hƣớng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn. Giáo dục Việt Nam đang ngày càng đổi mới theo hƣớng hội nhập khu vực và quốc tế, với chiến lƣợc lâu dài là mở rộng quy mô giáo dục trên cơ sở đảm bảo chất lƣợng. Mục tiêu là xây dựng một xã hội học tập, trong đó ai cũng đƣợc học tập, đào tạo để thông thạo ít nhất một nghề. Tuy nhiên đây là một mục tiêu mà để thực hiện đƣợc còn rất nhiều khó khăn.
Một trong những lý do là nguồn lực của chúng ta quá hạn hẹp, chƣa đủ để mở rộng mạng lƣới các cơ sở giáo dục và đào tạo, chƣa thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của cộng đồng. Thực tế cho thấy, do điều kiện kinh tế còn 5 khó khăn, ngân sách hàng năm đầu tƣ cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng còn thấp; không đủ trang trải cho những yêu cầu cần thiết về các điều kiện đảm bảo nhƣ: trƣờng lớp, thƣ viện, phòng thí nghiệm, nhà xƣởng thực hành. Theo số liệu thống kê của Tổng Cục thống kê Việt Nam thì tổng chi ngân sách dành cho giáo dục năm 2012 khoảng 170. Từ năm 2006 - 2012 chi cho giáo dục - đào tạo đã tăng từ 13% lên 20 trong tổng chi ngân sách Nhà nƣớc (bình quân bằng 5,72 GDP, cao hơn tỉ lệ bình quân 3,8 của các nƣớc và vùng lãnh thổ ở Châu Á) Bảng 1.1 Chi ngân sách nhà nƣớc cho giáo dục giai đoạn 2006 - 2012 Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng chi 55.684 (tỷ đồng) Tỷ lệ chi NS cho 5.8 GD/GDP (%) (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) Bên cạnh đó, yêu cầu nhanh chóng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập giáo dục nƣớc ta với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới cũng nhƣ việc đổi mới chƣơng trình nội dung, chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy đang đòi hỏi có những nỗ lực và quyết tâm cao.
Mô hình hệ thống giáo dục Việt nam đƣợc trình bày trên hình 1.1, hệ thống văn bằng chứng chỉ đƣợc trình bày trong Bảng 1. Sơ đồ hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 7 Bảng 1.2: Hệ thống văn bằng chứng chỉ ở Việt Nam Thời gian Điều kiện học khung của Tuổi chuẩn lực để đƣợc Văn bằng tốt Bậc, cấp giáo dục quá trình vào lớp đầu vào học lớp nghiệp GDĐT đầu 1 2 3 4 5 I. GD mầm non 3 năm 3-4 tháng - Nhà trẻ 3 năm 3 tuổi - Mẫu giáo II. GD phổ thông có bằng tiểu - Tiểu học 5 năm 6 tuổi Bằng tiểu học học - Trung học cơ sở 4 năm 11 tuổi Bằng TH cơ sở có bằng trung - Trung học chuyên 3 năm 15 tuổi Bằng tú tài học cơ sở ban III.
GD chuyên nghiệp Có bằng trung Chứng chỉ nghề - Đào tạo nghề sau tiểu dƣới 1 13-14 tuổi học cơ sở Bằng nghề học năm 15 tuổi Có bằng trung Bằng trung học - Đào tạo nghề sau 1-2 năm 15 tuổi học cơ sở chuyên nghiệp THCS 3-4 năm 15 tuổi Có bằng trung Bằng trung học - Trung học CN 3-4 năm học cơ sở nghề - Trung học nghề IV. Bậc giáo dục đại học Có bằng tú tài hoặc trung học - Cao đẳng 3 năm 18 tuổi chuyên nghiệp Bằng cao đẳng hoặc trung học nghề Hoàn thành giai Có bằng tú tài đoạn1: chứng chỉ hoặc trung học đại học đại - Đại học 4-6 năm 18 tuổi chuyên nghiệp cƣơng hoặc trung học Hoàn thành giai nghề đoạn 2:Bằng cử nhân Bằng cao học - Cao học 2 năm Có bằng cử nhân hoặc thạc sĩ 4 năm Có bằng cử nhân - Đào tạo tiến sĩ Bằng tiến sĩ 2 năm Có bằng cao học (Trích từ http://www. Mô hình trƣờng Cao đẳng Cộng đồng (CĐCĐ) a) Khái niệm trường CĐCĐ Mô hình trƣờng CĐCĐ đƣợc hình thành tại Australia (Úc) vào khoảng giữa thế kỷ 19, khi các lớp học buổi tối đƣợc tổ chức để giúp những ngƣời lớn tuổi tăng cƣờng kỹ năng tính toán và các kỹ năng đọc, viết. Chƣơng trình giáo dục bao gồm một loạt các chủ đề nhƣ nghệ thuật, ngôn ngữ, kinh doanh và lối sống; và thƣờng đƣợc tổ chức thực hiện vào buổi tối hoặc cuối tuần để giúp đỡ những ngƣời làm việc toàn thời gian.
Kinh phí cho các trƣờng CĐCĐ có thể đến từ các khoản tài trợ của Chính phủ và học phí, và hầu hết các trƣờng CĐCĐ là tổ chức phi lợi nhuận. Vào những năm 1980 nhiều trƣờng cao đẳng đã nhận thấy một nhu cầu rất lớn trong việc đào tạo tin học cho cộng đồng và kể từ đó, hàng ngàn ngƣời đã có tay nghề thông qua các khóa học công nghệ thông tin (CNTT). Phần lớn các trƣờng cao đẳng cuối thế kỷ 20 cũng đã trở thành tổ chức đào tạo theo địa chỉ (giáo dục phi truyền thống) nhằm nâng cao các kỹ năng cho những cá nhân muốn chuẩn bị tốt hơn cho việc tìm việc làm và khả năng nghề nghiệp. Tại Hoa Kỳ, trƣờng CĐCĐ thƣờng đƣợc gọi đơn giản là “Cao đẳng”.
Còn ở Canada, có khoảng 150 tổ chức tƣơng đƣơng nhƣ trƣờng CĐCĐ. Ở tỉnh Quebec, ngay cả khi nói chuyện bằng tiếng Anh, cao đẳng đƣợc gọi là Cégeps Collège d'enseignement généralet professionnel, có nghĩa là “Trƣờng Cao đẳng giáo dục phổ thông và dạy nghề” (từ “Trƣờng Cao đẳng” cũng có thể sử dụng cho một trƣờng trung học tƣ nhân ở Quebec). Trong Luận án Tiến sỹ về đề tài “Phân tích về khái niệm Cao đẳng Cộng đồng ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” Tiến sỹ Epperson, giảng viên trƣờng CĐCĐ St. Louisi, Hoa Kỳ đã đƣa ra những nhận xét tổng kết về mô hình Cao đẳng Cộng đồng ở Việt Nam.