Chương 1: Lý luận cơ bản về rủi ro tỷ giá và quản trị rủi ro tỷ giá tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tỷ giá tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết các vấn đề của đề tài còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và những ai quan tâm tới đề tài luận văn.
Tác giả xin cảm ơn PGS,TS. Đỗ Thị Kim Hảo, các thầy cô trường Đại học Ngoại thương và đồng nghiệp đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức để tác giả hoàn thành khoá học tại Trường Đại học Ngoại thương và hoàn thành luận văn này. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TỶ GIÁ VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Tổng quan rủi ro tỷ giá của ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, định nghĩa “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Dựa vào hình thức sở hữu, các ngân hàng thương mại được phân loại thành ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng TMCP, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra có thể dựa vào chiến lược kinh doanh và tính chất hoạt động để phân loại ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ, ngân hàng chuyên doanh hay ngân hàng kinh doanh tổng hợp. Hoạt động của ngân hàng thương mại Căn cứ vào định nghĩa ở trên, các hoạt động cốt lõi của ngân hàng thương mại bao gồm nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ tín dụng, đầu tư và nghiệp vụ 6 trung gian khác như dịch vụ thanh toán qua tài khoản, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn tài chính… 1.
Nghiệp vụ huy động vốn (Tài sản Nợ) Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác, - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giáy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức nước ngoài, - Vay vốn ngắn hạn của NHNN, - Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. Nghiệp vụ tín dụng, đầu tư (Tài sản Có) Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại.
Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức: 7 - Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống, - Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.
Về bảo lãnh, ngân hàng thương mại được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Về chiết khấu, ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác với tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Đây là loại hình tín dụng trung, dài hạn.
Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê. Bên cạnh tín dụng, hoạt động đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng thương mại.
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn huy động ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty hay mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty… 1. Nghiệp vụ trung gian Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thương mại. Dịch vụ thanh toán 8 và dịch vụ ngoại hối là hai dịch vụ chính mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng thương mại trong nghiệp vụ này. Dịch vụ thanh toán Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước.
Hoạt động dịch vụ thanh toán của ngân hàng bao gồm các hoạt động như cung cấp các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, dịch vụ thanh toán quốc tế. Dịch vụ ngoại hối Ngoại hối, theo định nghĩa tại Pháp lệnh ngoại hối Việt Nam năm 2005, là đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ); phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác; các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Dịch vụ ngoại hối bao gồm việc mua, bán, huy động và cho vay các loại ngoại tệ nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng, đảm bảo cân đối nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lời thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau. Theo nghĩa hẹp, hoạt động kinh doanh ngoại hối đơn thuần là các hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại khi tham gia trên thị trường trong nước và quốc tế nhằm đảm bảo nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng, đem lại lợi nhuận cho khách hàng.
Rủi ro tỷ giá Các hoạt động của ngân hàng thương mại, bao gồm các sản phẩm dịch vụ cốt lõi đến các sản phẩm nghiệp vụ khác ngày càng liên quan đến ngoại tệ như huy động và cho vay bằng ngoại tệ, chiết khấu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, đầu tư trái phiếu quốc tế, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ…Tất cả các hoạt động này đều làm phát sinh rủi ro tỷ giá cho các ngân hàng thương mại. Vậy rủi ro tỷ giá là gì? 1. Khái niệm rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá của các ngân hàng thương mại được xếp vào nhóm rủi ro thị trường và có thể đo lường, xác định được. Có nhiều định nghĩa về rủi ro tỷ giá: Theo Peter S, Rose: “Rủi ro hối đoái (tỷ giá) là khả năng thiệt hại (tổn thất) mà ngân hàng phải gánh chịu do sự biến động giá cả tiền tệ thế giới.” Theo Hennie Van Greunung và Soja Brajovic Bratanovic: “Rủi ro hối đoái (tỷ giá) là rủi ro xuất phát từ sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa nội tệ và ngoại tệ.” Theo định nghĩa của NHNN Việt Nam, rủi ro tỷ giá là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ.
Như vậy rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai, gây thiệt hại cho ngân hàng.