mở đầu cho thời ký suy thoái) và được thực hiện thông qua các công cụ như: Lãi suất, tỷ lệ tham gia vốn của ngân hàng và tiêu chuẩn xét duyệt cấp tín dụng. Một chính sách tín dụng tốt phải là một ứng dụng thông minh của những nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường kinh tế. - Phân tích, đánh giá rủi ro: Để xây dựng và đưa các chiến lược chính sách vào thực tế, ngân hàng phải xây dựng một cơ cấu tổ chức hiệu quả trên các nguyên tắc đảm bảo sự minh bạch, công khai, trong đó phải xác định rõ vai trò và trách nhiệm phân tách các nhiệm vụ trong triển khai hoạt động. Cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tín dụng phải có sự tham gia của mọi bộ phận liên quan đến hoạt động tín dụng, từ ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng đến bộ phận kinh doanh và các bộ phận liên quan.
Cơ cấu tổ chức rủi ro tốt sẽ là một bộ phương thức quản lý rủi ro bài bản. Phân tích và thẩm định tín dụng là hai khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình tín dụng, hai khâu này nếu thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý và giảm thiểu rủi ro. Mục tiêu của phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc lần lãi. Giúp ngân hàng đánh giá về điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng, tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra để ra quyết định có nên cấp tín dụng hay không.
Học viên: Phạm Minh Tuân 12 Cao học QTKD 2011-2013 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBKHN Mặc khác phân tích tín dụng còn quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ đó thẩm định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay. Điều này góp phần làm giảm thiểu rủi ro tín dụng. Mục tiêu của thẩm định tín dụng là đánh giá mức độ tin cậy của phương án hoặc dự án của khách hàng, theo đó ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi mà đánh giá được phương án hoặc dự án đầu tư của khách hàng là đáng tin cậy. Mục đích của phân tích tín dụng và thẩm định tín dụng nhằm: Hạn chế thông tin bất cân xứng, đánh giá đúng thực trạng rủi ro của khách hàng và khả năng kiểm soát của ngân hàng về các loại rủi ro đó, dự kiến các biện pháp phòng ngừa.
- Đo lường rủi ro: Một trong những tính chất cơ bản của tài chính hiện đại là tính rủi ro và vì vậy tất cả các mô hình tài chính hiện đại đều được đặt trong môi trường rủi ro. Do đó cần thiết phải có một khái niệm rủi ro theo quan điểm lượng và phải xây dựng công cụ để đo lường nó, có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình định lượng và mô hình định tính. Luận văn xin giới thiệu một số mô hình như sau: Mô hình định tính về rủi ro tín dụng - Mô hình 6C: Đối với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu khách hàng có thiện chí và khả thanh toán toán khi khoản vay đến hạn hay không.
[5] Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của khách hàng theo FDIC, Bank Examination policies, Washington, D.C, selected yea bao gồm: - Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng (CBTD) phải chắc chắn rằng người vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn. - Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, người vay có phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp. - Thu nhập của người vay (Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay. - Bảo đảm tiền vay (Collateral): Là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
Học viên: Phạm Minh Tuân 13 Cao học QTKD 2011-2013 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBKHN - Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ. - Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng. Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD. Các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng: Mô hình định tính được xem là mô hình cổ điển để đánh giá rủi ro tín dụng.
Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại hơn, đó là lượng hóa rủi ro tín dụng. Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất: Mô hình điểm số Z (Z-credit scoring model): Mô hình điểm số Z do Giáo sư Edward I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối với các công ty sản xuất của Mỹ. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào: Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj), tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1, X2, X3, X4, X5, trong đó: X1 = tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”.
X2 = tỷ số “lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản”. X3 = tỷ số “lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”. X4 = tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn” X5 = tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”. Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp, như vậy khi trị số Z thấp hoặc âm sẽ là căn cứ để xếp hạng khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
Từ một chỉ số Z ban đầu Giáo Sư Edward I.Altman đã phát triển ra Z’ và Z’’ để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp như sau: - Đối với doanh nghiệp (DN) đã cổ phần hoá, ngành sản suất: Z = 1.99: DN nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản.99: DN nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. Học viên: Phạm Minh Tuân 14 Cao học QTKD 2011-2013 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBKHN + Nếu Z<1.8: DN nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. - Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản xuất: Z’ = 0.9: DN nằm trong vùng an toàn chưa có nguy cơ phá sản.9: DN nằm trong vùng cảnh báo có thể có nguy cơ phá sản.23: DN nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. - Đối với các doanh nghiệp khác: Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp.
Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra. Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau: Z’’ = 6.6: DN nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản.6: DN nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản.1: DN nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Ưu điểm: Kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản. Nhược điểm: Mô hình này chỉ cho phép phân hàng thành hai nhóm là “vỡ nợ” và “không vỡ nợ”, Trong thực tế “vỡ nợ” được phân thành nhiều loại, từ không trả hay chậm trễ trong việc trả lãi tiền vay đến việc không hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay.
Điều này hàm ý cần có một mô hình cho điểm chính xác hơn, toàn diện hơn theo nhiều thang điểm để phân loại khách hàng thành nhiều nhóm tương ứng với các mức độ vỡ nợ khác nhau. Không có lý do rõ ràng để phân tích sự bất biến về tầm quan trọng của các biến số theo thời gian, dù là trong ngắn hạn.Tương tự như vậy bản thân các chỉ số được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện thị trường và kinh doanh thường xuyên thay đổi. Mô hình cũng giả thiết rằng các biến số là hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc lẫn nhau. Đã không tính tới một nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng.
Ví dụ, yếu tố “danh tiếng” của khách hàng, yếu tố “mối quan hệ truyền thống” giữa khách hàng và ngân hàng, hay yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh. Phương pháp xếp hạng và chấm điểm tín dụng: Moody’s Investors Service (Moody’s) và Standard & Poor's (S&P) là hai tổ chức tín nhiệm có uy tín và lâu Học viên: Phạm Minh Tuân 15 Cao học QTKD 2011-2013 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBKHN đời tại Mỹ và cũng là những tổ chức tiên phong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, sau đó có thêm Fitch Investors Service. Ngày nay các tổ chức tín nhiệm này của Mỹ hoạt động trên các thị trường tài chính lớn và cả những thị trường mới nổi trên toàn cầu, kết quả xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức này được đánh giá rất cao. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu trên thế giới gồm Fitch, S&P, Moody's sử dụng chủ yếu phương pháp chuyên gia, đánh giá một cách toàn diện về nền kinh tế, ngành và công ty, kết hợp phân tích định tính và định lượng.
Với chỉ tiêu phi tài chính được nỗ lực lượng hóa tối đa, chỉ tiêu tài chính được tính toán sau khi dữ liệu đã điều chỉnh để có thể so sánh với các doanh nghiệp tương đồng hoặc các doanh nghiệp trong ngành. Họ cũng chú trọng xem xét các nhóm tỷ số hơn bất kỳ tỷ số riêng lẻ nào và thiên về đánh giá dòng tiền thực chất mà doanh nghiệp tạo ra được với dòng tiền mà doanh nghiệp phải chi trả.