phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. Chƣơng 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA NƢỚC TA. Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Trong chƣơng 1 luận văn tập trung làm rõ một số nội dung sau: các khái niệm cơ bản, nội dung của công tác QLNN về XKLĐ, các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác QLNN về XKLĐ, kinh nghiệm QLNN về XKLĐ của một số nƣớc và sự cần thiết phải nghiên cứu các giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động.
- Trong phần một số khái niệm cơ bản, luận văn đã đề cập đến các khái niệm nhƣ: khái niệm quản lý nhà nƣớc, khái niệm di dân và tính tất yếu của di dân, mối quan hệ giữa di dân với xuất khẩu lao động, khái niệm quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động và khái niệm tăng cƣờng, nhƣng tác giả luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu khái niệm xuất khẩu lao động và quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động. iii Theo luận văn, xuất khẩu lao động là: XKLĐ được hiểu là sự di chuyển LĐ đi làm việc ở nước ngoài, chủ yếu là XKLĐ có tổ chức, hợp pháp thông qua những Hiệp định Chính phủ, hoặc các tổ chức kinh tế được cấp giấy phép hoạt động cung ứng và tiếp nhận LĐ, hoặc thông qua các hợp đồng nhận thầu khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài hoặc thông qua hợp đồng cá nhân. Còn quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động là một dạng QLNN, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực XKLĐ, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của hoạt động XKLĐ nói riêng và của nền kinh tế – xã hội nói chung, bao gồm: Một là, hoạt động ban hành các loại văn bản pháp luật về XKLĐ nhƣ Luật, Nghị định, Thông tƣ, chỉ thị…để QLNN về XKLĐ; Hai là, hƣớng dẫn tổ chức thực hiện đƣa các loại văn bản pháp luật về XKLĐ vào thực tiễn QLNN về XKLĐ; Ba là, thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về XKLĐ; Bốn là, qua thực tiễn QLNN về XKLĐ tiến hành điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về XKLĐ cho ngày một phù hơn với yêu cầu của thực tế. Công tác QLNN về XKLĐ là việc tổ chức QLNN về XKLĐ.
Vì vậy, nội dung công tác QLNN về XKLĐ bao gồm tổ chức bộ máy QLNN về XKLĐ để thực hiện 4 nội dung của QLNN về XKLĐ nêu trên. Nhƣ vậy, qua phân tích các khái niệm cơ bản trên, luận văn đã đƣa ra các nội dung của công tác quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động; xây dựng pháp luật, thể chế kinh tế và ban hành các chính sách về XKLĐ; Tổ chức thực hiện quản lý hoạt động XKLĐ; Giám sát, kiểm tra hoạt động XKLĐ; Đánh giá và điều chỉnh văn bản pháp luật về XKLĐ. - Trong phần các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý nhà nƣớc về XKLĐ, luận văn đã nêu ra các nhân tố bên ngoài nhƣ: cung cầu thị trƣờng LĐ quốc tế, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, quan hệ chính trị, kinh tế của nƣớc iv xuất khẩu và nƣớc nhập khẩu LĐ, phong tục tập quán của nƣớc nhập khẩu LĐ, luật pháp của nƣớc nhập khẩu LĐ và các nhân tố bên trong nhƣ: quan điểm của nhà nƣớc về hoạt động XKLĐ, trình độ, cơ cấu LĐ, cơ cấu ngành nghề, luật pháp trong quản lý và vai trò của Chính phủ trong quản lý nhà nƣớc. Bên cạnh đó luận văn đã tham khảo kinh nghiệm QLNN về XKLĐ của các nƣớc: Hàn Quốc, Philippines và Ấn Độ và đã rút ra đƣợc 4 bài học trong công tác QLNN về XKLĐ bao gồm: Chủ trƣơng và hành lang pháp lý đối với hoạt động XKLĐ; về cơ chế tổ chức, cấp giấy phép, tuyển chọn và quản lý LĐ làm việc ở nƣớc ngoài; về chính sách thị trƣờng, đa dạng hoá loại hình, xác định ngành nghề mũi nhọn để đẩy mạnh XKLĐ; về chính sách đối với đào tạo nguồn nhân lực xuất khẩu, hỗ trợ XKLĐ, khuyến khích chuyển thu nhập về nƣớc.
Kết thúc chƣơng 1, luận văn đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu các giải pháp tăng cƣờng công tác QLNN về XKLĐ từ việc nêu tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến công tác QLNN về XKLĐ nhƣng do cho đến nay tình hình thực tế đã có nhiều thay đổi nên cần có sự tiếp tục nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác QLNN về XKLĐ, đồng thời XKLĐ là tất yếu khách quan đối với nền kinh tế của nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay, mang lại lợi ích nhiều mặt. Hơn nữa, tăng cƣờng công tác QLNN về XKLĐ nhằm ổn định và phát triển hoạt động XKLĐ. v CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA NƢỚC TA.1: So sánh XKLĐ với việc làm trong nƣớc tạo ra hàng năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Số lƣợng Số lƣợng Số lƣợng Số lƣợng Số lƣợng Số lƣợng Chỉ tiêu (1000 (1000 (1000 (1000 (1000 (1000 ngƣời) ngƣời) ngƣời) ngƣời) ngƣời) ngƣời) Tổng số 1.572 Tỷ lệ (%) (97,42) (96,76) (95,08) (95,66) (95,61) (95,22) Ngòai nƣớc 36 46 75 67,5 70,6 78,8 Tỷ lệ (%) (2,58) (3,24) (4,92) (4,34) (4,39) (4,78) (Nguồn: Bộ LĐTBXH) Bảng 2.2: Số lƣợng LĐ đƣa đi phân theo thị trƣờng trọng điểm (1992-2006) (Đơn vị tính: ngƣời) Nƣớc tiếp nhận TT Năm Tổng số Đài Nhật Hàn Nƣớc Malaysia Loan Bản Quốc khác 1 1992 810 0 0 210 0 600 2 1993 3.414 % tổng số 100,00 27,30 5,70 15,51 27,48 24,01 (Nguồn: Báo cáo hàng năm của Cục Quản lý LĐ ngòai nƣớc) Bảng 2.3: Số tiền ngƣời lao động đi xuất gửi về so với kim ngạch xuất khẩu hàng năm (2000 - 2006) Tổng số Xuất khẩu Ngƣời LĐ gửi vể Năm Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ (Tỷ USD) (%) (Tỷ USD) (%) (Tỷ USD) (%) 2000 15,733 100 14,483 92,05 1,25 7,95 2001 16,429 100 15,029 91,48 1,4 8,52 2002 18,156 100 16,706 92,01 1,45 7,99 2003 21,649 100 20,149 93,07 1,5 6,93 2004 28,053 100 26,503 94,47 1,55 5,53 2005 33,873 100 32,223 95,13 1,65 4,87 2006 41,305 100 39,605 95,88 1,7 4,12 (Nguồn: Tổng hợp báo cáo hàng năm của Cục QLLĐNN- Bộ LĐTBXH, Ngân hàng Nhà nƣớc và Website của Bộ Thƣơng mai: http://www.vn) vii Trong chƣơng này, trƣớc tiên luận văn nêu tổng quan hoạt động XKLĐ của Việt Nam, bắt vào năm 1980, cơ chế XKLĐ của ta đã chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trƣờng theo sự thay đổi chung của nền kinh tế đất nƣớc, đã có những kết quả khả quan với những bƣớc đi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc. Nếu năm 1992 chúng ta mới chỉ đƣa đi đƣợc 810 LĐ, thì đến cuối năm 2000 đã đạt 31.500 LĐ và đến năm 2006 đã đạt 78.2), tỷ trọng việc làm do XKLĐ tạo ra cũng tăng đều đặn hàng năm so với tạo việc làm trong nƣớc, từ 2,8% năm 2001 lên 4,78% năm 2006 (xem bảng 2.
Sau khi trừ các khoản tiền chi phí trƣớc khi đi nƣớc ngoài và chi phí ở ngoài nƣớc, kết thúc hợp đồng LĐ 2 năm, tùy theo từng thị trƣờng, ngƣời LĐ có thể tích luỹ đƣợc khoảng 5.000 USD trong đó phí dịch vụ phải nộp là 01 tháng lƣơng cơ bản/1 năm hợp đồng. Hàng năm Nhà nƣớc có đƣợc nguồn thu kiều hối từ XKLĐ trên hơn 1,5 tỷ USD, mặc dù về tỷ lệ hàng năm có giảm so với kim ngạch xuất khẩu song về số tuyệt đối thì lƣợng kiều hồi thu về do XKLĐ vẫn tăng hàng năm (xem bảng 2. Tiếp theo luận văn đã tập trung đánh giá thực trạng công tác QLNN về XKLĐ với các nội dung sau: - Phân tích tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động và đội ngũ cán bộ QLNN về XKLĐ. Phân tích đội ngũ cán bộ của Cục QLLĐNN (Số liệu tính đến tháng 4 năm 2007) Tiêu chí Số ngƣời Tỷ lệ (%) 1.
Giới tính 75 100 - Nam 45 60,00 - Nữ 30 40,00 viii 2. Trình độ học vấn: 75 100 - Trung cấp, cao đẳng 4 5,33 - Kỹ sƣ, cử nhân 56 74,66 - Thạc sỹ 13 17,33 - Tiến sỹ 2 2,68 3. Kinh nghiệm công tác: 75 100 - Dƣới 5 năm 18 24,00 - Từ 5 năm trở lên 57 76,00 4. Trình độ ngoại ngữ (Anh, Trung, Nga…) 75 100 - Dƣới trình độ C 32 42,66 - Trình độ C trở lên 43 57,34 5.
Khả năng sử dụng tin học trong quản lý 75 100 - Thành thạo 42 56,00 - Trung bình 23 30,66 - ít thành thạo 10 13,34 Thời kỳ trƣớc năm 1991: QLNN về XKLĐ mang nặng tính bao cấp, cồng kềnh và kém hiệu quả, chƣa có sự tách biệt giữa chức năng QLNN vĩ mô với chức năng hoạt động kinh doanh của các tổ chức có nhiệm vụ cung ứng trực tiếp LĐ xuất khẩu. Thời kỳ từ năm 1991 đến nay: Tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý hoạt động XKLĐ đƣợc phân chia theo hai chức năng chủ yếu: Chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc và chức năng quản lý vi mô của các tổ chức kinh tế trực tiếp đƣa LĐ đi làm việc có thời hạn ở nƣớc ngoài. Ở Trung ƣơng: Chính phủ thống nhất QLNN về XKLĐ và giao cho Bộ LĐTBXH là đầu mối quản lý, còn các Bộ, ngành khác có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ LĐTBXH. Các địa phƣơng, ở cấp tỉnh đơn vị trực tiếp QLNN về XKLĐ là Sở LĐTBXH, ở cấp huyện là Phòng lao động tiền lƣơng phụ trách.
Ngoài ra, ở các cấp từ tỉnh đến huyện đều thành lập Ban Chỉ đạo XKLĐ. Bộ LĐTBXH mà trực tiếp là Cục QLLĐNN trực tiếp thực hiện công tác QLNN về XKLĐ.4 cho thấy, về trình độ chuyên môn của cán bộ trong Cục QLLĐNN là tƣơng đối cao nhƣng có độ tuổi tƣơng đối cao, 30,67% số cán bộ của tuổi hơn 50. ix - Đánh giá hoạt động ban hành văn bản pháp luật về xuất khẩu lao động. Thời gian vừa qua, chúng ta đã ban hành đƣợc một khối lƣợng văn bản để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tế.