BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Khoa Tài chính Quốc Tế KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG. Sinh viên : Nguyễn Thị Hưởng Lớp : CQ46/08.02 Địa điểm thực tập : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Phan Duy Minh HÀ NỘI, 2012 Học viện Tài chính Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG 2. KHÁI QUÁT VỀ ĐTTTNN TẠI HẢI DƯƠNG 2. Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh 2.
Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên Hải Dương nằm ở trung tâm Vùng đồng bằng Sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, giữa Hà Nội – Hải phòng – Quảng Ninh, có ranh giới tiếp giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên, và thành phố cảng Hải Phòng. Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chia thành bốn mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 23 oC; lượng mưa trung bình hàng năm 1,500-1,700 mm; độ ẩm trung bình 78- 87%. Theo số liệu thống kê: Từ năm 1972 đến nay tỉnh Hải Dương không bị ảnh hưởng lớn bởi lụt lội do mưa bão. Hải Dương có nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, như đá vôi với trữ lượng khoảng 200 triệu tấn, đất sét để sản xuất vật liệu chịu lửa 8 triệu tấn; cao lanh là nguyên liệu chính để sản xuất gốm sứ 400,000 tấn; quặng bụ xớt để sản xuất đá mài và bột mài công nghiệp trữ lượng 200,000 tấn, tập trung chủ yếu ở hai huyện Chí Linh và Kinh Môn.
Hệ thống giao thông trong tỉnh thuận tiện, bao gồm đường bộ (các Quốc lộ 5; 183; 18…); đường sắt Hà Nội – Hải Phòng (sắp được nâng cấp và hiện đại hoá), đường sông; gần sân bay quốc tế Hà Nội và sân bay Cát Bi, Hải Phòng; nằm trên trục giao thông Côn Minh (Trung Quốc) - Hà Nội - Quảng Sinh viên: Nguyễn Thị Hưởng 2 Lớp: CQ46/08.02 Học viện Tài chính Khoá luận tốt nghiệp Ninh. Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đi qua địa phận tỉnh Hải Dương (nằm phía nam, song song với đường Quốc lộ 5A hiện nay) đang được triển khai xây dựng. Dự án này hoàn thành sẽ rút ngắn thời gian từ Hà Nội đi Hải Phòng từ 2h hiện nay xuống còn 1h, tạo điều kiện để phát triển kinh tế khu vực phía nam của tỉnh vốn giàu tiềm năng đầu tư và nguồn lực lao động. Đường cao tốc 18 mới từ sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội đi Quảng Ninh qua địa bàn huyện Chí Linh cũng đang được quy hoạch xây dựng.
Diện tích và địa hình: Diện tích tự nhiên của tỉnh 1.652 km2, địa hỡnh nghiờng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Toàn tỉnh được chia làm hai vựng chớnh: vựng đồi núi chiếm khoảng 11% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu thuộc hai huyện Chí Linh và Kinh Môn, phù hợp với xây dựng các cơ sở công nghiệp, du lịch và trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, các loại cây công nghiệp. Vùng đồng bằng còn lại chiếm khoảng 89% diện tích đất tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất đai bằng phẳng, màu mỡ phù hợp với trồng cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Ngoài 2 huyện có núi là Kinh Môn và Chí Linh, địa hình Hải Dương tương đối bằng phẳng, và không cao lắm so với mực nước biển.
Ðiểm cao nhất cao 818 m, điểm thấp nhất là 0.5m với độ cao trung bình là 1.5 -2m so với mực nước biển. Địa hình địa chất tương đối ổn định, đây là điểm thuận lợi về chi phí trong việc đầu tư xây dựng các khu công nghiệp. Đặc điểm kinh tế - xã hội Dân số và nguồn lực: Tỉnh Hải Dương có 11 huyện và 01 thành phố, dân số khoảng 1.7 triệu người, trong đó trên 60% là trong độ tuổi lao động. Dân số nông thôn chiếm Sinh viên: Nguyễn Thị Hưởng 3 Lớp: CQ46/08.02 Học viện Tài chính Khoá luận tốt nghiệp tỷ trọng cao (84.5% tổng dân số), chủ yếu làm nông nghiệp, đây là nguồn nhân lực quan trọng để cung cấp cho các dự án đầu tư.
Thành phố Hải Dương hiện là đô thị loại III là Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ số 5, cách Hải Phòng 45 km về phía Đông, cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Tây và cách thành phố Hạ Long trên 90 km. Ngoài ra, Tỉnh đang quy hoạch để nâng cấp thị trấn Sao Đỏ lên đô thị loại IV và huyện Chí Linh thành thị xã, một Trung tâm kinh tế, văn hoá thứ hai của tỉnh. Khái quát về kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 9%/năm giai đoạn 2006- 2010 năm, kế hoạch giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng bình quân GDP là 11%/năm trở lên. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Năm 2010 tỷ trọng: Nụng, lõm, thuỷ sản - Công nghiệp, xây dựng - Dịch vụ đạt 23% - 45.7%; kế hoạch đến năm 2015 tỷ lệ này sẽ là: 19% - 48% - 33%. Mạng lưới điện quốc gia đã phủ khắp toàn tỉnh. Điện cho lĩnh vực sản xuất được cung cấp 24/24 giờ. Hệ thống thông tin viễn thông, dịch vụ ngân hàng, cảng nội địa ICD, hải quan đầy đủ, thuận tiện, hiện đại.
Hải Dương còn là tỉnh có nguồn thu ngân sách khá, đủ cho chi ngân sách và tạo thế chủ động trong đầu tư. Hải Dương là vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời với những di tích lịch sử- văn hoá Quốc gia nổi tiếng như: Côn Sơn, Kiếp Bạc, Kính Chủ, Yên Phụ, hàng năm thu hút hàng vạn khách thập phương đến tham quan và dâng lễ, đặc biệt là vào các mùa Lễ hội. Hoạt động đầu tư Sinh viên: Nguyễn Thị Hưởng 4 Lớp: CQ46/08.02 Học viện Tài chính Khoá luận tốt nghiệp Tỉnh Hải Dương chủ trương khuyến khích thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp tập trung của tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có 11 Khu công nghiệp với tổng diện tích là 2,186.
Ngoài ra, để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, tỉnh đã quy hoạch 33 Cụm công nghiệp (CCN) nằm ở các vị trí thuận lợi về giao thông, điện, thông tin liên lạc. trên địa bàn của các huyện trong tỉnh. Đến ngày 07/02/2012, trên địa bàn tỉnh Hải Dương cú trờn 3,000 doanh nghiệp trong nước đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký trên 100,000 tỷ đồng; có 225 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 24 Quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký 5,600.379 triệu USD, đứng trong tốp các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, trong KCN có 109 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký là 1,808.262 triệu USD, có gần 100 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút trên 56,000 lao động trực tiếp tại các Doanh nghiệp cùng hàng ngàn lao động gián tiếp khác.
Tình hình ĐTTTNN hiện nay Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương bắt đầu hoạt động từ năm 1990. Tuy nhiên, đến năm 2003 hoạt động này mới thực sự phát triển khi Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 96/2003/QĐ-TTg về việc thành lập, quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý các KCN tỉnh Hải Dương. Sự hình thành và đi vào hoạt động của Ban Quản lý các KCN tỉnh là nhân tố mới trong hoạt động thu hút đầu tư vào tỉnh Hải Dương. Và việc đầu tư FDI vào Hải Dương phát triển mạnh mẽ nhất từ năm 2005 trở lại đây.
Tình hình thu hút FDI của Hải Dương từ năm 1990 đến năm 2002 mới chỉ bắt đầu ở bước khơi mào, mỗi năm trong giai đoạn này mới chỉ thu hút được vài dự án. Trong vòng 13 năm Hải Dương mới thu hút được 21 dự án với tổng số vốn đăng ký là 507. Nguyên nhân là do chính sách Sinh viên: Nguyễn Thị Hưởng 5 Lớp: CQ46/08.02 Học viện Tài chính Khoá luận tốt nghiệp mở của thu hút FDI của Việt Nam mới bắt đầu thực hiện từ cuối năm 1987. Đây mới chỉ là những năm đầu tiên của chính sách mở cửa.
Mặt khác, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Khu vực châu Á Thái Bình Dương đã làm giảm tiến độ FDI vào Việt Nam nói chung và vào tỉnh Hải Dương nói riêng. Các năm từ năm 2003 đến năm 2005, số lượng dự án đăng ký voà tỉnh tăng lên đáng kể. Đặc biệt là từ năm 2006 trở lại đây được coi là giai đoạn cột mốc trong thu hút FDI. Chính quyền tỉnh Hải Dương đã tích cực triển khai các biện pháp nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài như tăng cường tiếp thị, cải tiến môi trường đầu tư, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong cấp phép đầu tư, rút ngắn thời gian làm thủ tục cấp phép, hỗ trợ , giảm giá thuê đất, thực hiện một số ưu đãi cho nhà đầu tư.
Với các nỗ lực đó Hải Dương đã đạt được những kết quả khả quan trong thu hút FDI. Cho đến 07/02/2012 toàn tỉnh đó cú 229 dự án FDI đến từ 24 quốc gia và cỏc vựng lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký đạt 5,600.739 triệu USD, vốn thực hiện ước đạt 1,973.8 triệu USD trên tống số vốn đăng ký (35.2%) và hiện nay có 166 dự án đã đi vào hoạt động, 25 dự án đang được triển khai và 38 dự án đã bị thu hồi, chấm dứt hoạt động do không triển khai hoặc dừng triển khai (số liệu tổng hợp từ danh sách FDI và các Báo cáo tình hình FDI các năm do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Dương cung cấp). Biểu đồ 1: So sánh số dự án FDI vào tỉnh Hải Dương giữa các giai đoạn 135 150 Số dự án 1990 - 1995 100 1996 - 2000 46 2001 - 2005 31 50 11 2006 - 2010 6 2011 đến nay 0 Sinh viên: Nguyễn Thị Hưởng 6 Lớp: CQ46/08.02 Học viện Tài chính Khoá luận tốt nghiệp Từ biểu đồ trên cho thấy số dự án FDI đầu tư vào Hải Dương giai đoạn 2006 – 2010 tăng lên nhanh chóng ( gấp hơn 12 lần so với giai đoạn 1990 – 1995, 22.5 lần so với giai đoạn 1996 – 2000 và gần 3 lần so với giai đoạn 2001 – 2005). Cơ cấu FDI tại Hải Dương.