phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế của cơ quan thuế đối với doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế thành phố Hà Nội. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ CỦA CƠ QUAN THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động kiểm tra thuế Khái niệm về kiểm tra thuế Lịch sử xã hội loài ngƣời đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nƣớc.
Để duy trì sự tồn tại và thực hiện chức năng của mình, nhà nƣớc cần có nguồn vật chất để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Theo Gaston (1934) trong cuốn “Tài chính công” đã đƣa ra một khái niệm về thuế và đây đƣợc coi là cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất. Theo tác giả, “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp các khoản chi tiêu của nhà nước”. Theo từ điển Tiếng Việt (2010) do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.
Theo từ điển Luật học, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể đƣợc giao để đánh giá, nhận xét. Theo Giáo trình Quản lý thuế (2010) của Học viện Tài chính, kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế (CQT) trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tƣợng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tƣợng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá. Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu: kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa 7 vụ thuế của ngƣời nộp thuế (NNT) nhằm đảm bảo pháp luật thuế đƣợc thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội. Đặc điểm của kiểm tra thuế Thứ nhất, về mục đích: Kiểm tra thuế là một nội dung quan trọng của quản lý thuế có cùng mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của NNT.
Thứ hai, về chủ thể: Chủ thể kiểm tra thuế là cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thƣờng là CQT. Thứ ba, về đối tượng: Đối tƣợng của kiểm tra thuế rất rộng, bao gồm mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế. Thứ tư, về nội dung: Kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của NNT ở tất cả các giai đoạn: đăng ký, kê khai, nộp thuế và trên mọi sắc thuế của NNT. Thứ năm, về phương pháp: Kiểm tra thuế phải xem xét hoạt động thực tế của đối tƣợng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tƣợng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm.
Sự cần thiết phải tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là công cụ tài chính có tính cƣỡng chế dùng để tạo lập nguồn thu cho NSNN và phân phối thu nhập trong xã hội. Thuế có tác động và có tầm ảnh hƣởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực và tạo môi trƣờng đầu tƣ nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững. Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của CQT nhằm đảm bảo NNT chấp hành nghĩa vụ thuế vào NSNN theo quy định của 8 pháp luật. Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 đƣợc Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 đã tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại, theo đó NNT tự tính, tự khai, tự nộp thuế vào NSNN, CQT thực hiện quản lý thuế theo chức năng.
Kiểm tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của quản lý thuế, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật thuế của NNT. Kiểm tra thuế vừa phát hiện, ngăn ngừa các trƣờng hợp vi phạm pháp luật thuế, vừa khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của NNT, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Trong kết quả thu ngân sách hàng năm của ngành thuế có sự đóng góp không nhỏ của công tác kiểm tra thuế. Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tời toàn cầu hóa kinh tế là tất yếu khách quan.
Theo đó hội nhập kinh tế quốc tế về thuế ngày càng sâu rộng, nhằm khuyến khích đầu tƣ, tự do hóa thƣơng mại trong khu vực và trên thế giới. Hệ thống pháp luật sẽ dần đƣợc hoàn thiện, xây dựng hệ thống chính sách thuế tƣơng thích, công tác quản lý thuế phải đƣợc cải cách và hiện đại hóa theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càng đƣợc hiện đại hóa và số lƣợng NNT không ngừng tăng lên nhanh chóng… Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả công tác kiểm tra thuế. Hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nƣớc sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động kiểm tra thuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho NNT hiểu và nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, đầu tƣ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cũng hỗ trợ cho công tác kiểm tra thuế đƣợc tiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu quả cao hơn.
9 Cùng với sự gia tăng về số lƣợng NNT sẽ là sự đa dạng hóa các loại hình DN và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó là sự phức tạp, tinh vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của NNT, gây khó khăn trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho NSNN. Do đó, số lƣợng NNT ngày càng tăng sẽ là một thách thức không nhỏ đối với công tác kiểm tra. Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí đƣợc nâng cao, sự hiểu biết về pháp luật thuế cũng nhƣ ý thức tự tuân thủ của NNT ngày càng đƣợc cải thiện, bởi họ hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cũng vì sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật thuế mà khả năng, thủ đoạn trốn, tránh thuế của NNT ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây khó khăn cho cán bộ kiểm tra thuế trong việc phát hiện ra các gian lận, giảm hiệu quả kiểm tra thuế.
Vì vậy, cần thiết phải tăng cƣờng kiểm tra thuế đối với DN. Nguyên tắc kiểm tra thuế Nguyên tắc kiểm tra thuế là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành động mà các cơ quan quản lý nhà nƣớc, cơ quan thuế, cán bộ thực hiện công tác kiểm tra phải tuân theo trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm tra. Các nguyên tắc kiểm tra chỉ đạo và chi phối mối quan hệ trong kiểm tra nhằm đảm bảo cho hoạt động kiểm tra đạt đƣợc mục đích đề ra. Mục tiêu của kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nƣớc, của nhân dân, của các DN, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra thì hoạt động kiểm tra thuế cần tuân thủ những nguyên tắc sau: 10 Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật Hoạt động kiểm tra thuế phải tuân theo pháp luật và ngƣời làm công tác kiểm tra thuế phải chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan, cán bộ công chức tham gia kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề kiểm tra, không chịu tác động của bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào và chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về kết luận và kiến nghị của mình. Đây là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế. Thứ hai, nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra, có nhƣ vậy mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tƣợng kiểm tra, xử lý đúng ngƣời, đúng việc, đúng pháp luật.
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi hoạt động kiểm tra thuế phải tuân thủ các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế. Nguyên tắc chính xác đòi hỏi chủ thể kiểm tra thuế phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung kiểm tra; xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận, giúp cho việc xử lý sai phạm đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Tính chính xác đảm bảo cho công tác kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao. Nguyên tắc khách quan yêu cầu chủ thể kiểm tra thuế phải phản ánh đúng sự vật, hiện tƣợng vốn có, tôn trọng sự thật.
Tính khách quan và chính xác có mối quan hệ tác động qua lại. Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết 11 luận chính xác và kết luận kiểm tra có chính xác mới thể hiện đƣợc tính khách quan của hoạt động kiểm tra thuế.