Lời mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ công tác quản lý nợ thuế. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng kiểm soát nội bộ công tác quản lý nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Định. e 6 CHƢƠNG1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1.
Giới thiệu kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công 1. Định nghĩa và mục tiêu KSNB 1. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Theo Báo cáo COSO 1992 định nghĩa về kiểm soát nội bộ: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Hoạt động hữu hiệu và có hiệu quả; Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định đƣợc tuân thủ” [8]. Với định nghĩa này, có bốn nội dung cơ bản đƣợc hiểu đó là: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Kiểm soát nội bộ gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị, đƣợc kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Kiểm soát nội bộ sẽ không bao giờ chấm dứt, nó luôn tồn tại và phát triển cùng với tổ chức. Khi một tổ chức lớn mạnh thì kiểm soát nội bộ phải thay đổi, bổ sung để đáp ứng cho nhu cầu quản lý tại đơn vị. - Kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời: Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là chính sách, thủ tục, biểu mẫu,… mà bao gồm cả con ngƣời trong tổ chức nhƣ: Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các Phòng ban và các nhân viên khác,… Con ngƣời định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng trong quản lý. Do đó, nó chịu ảnh hƣởng bởi trình độ, nhận thức, môi trƣờng hoạt động,… - Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: Việc vận hành hệ thống kiểm soát có thể xảy ra những mặt yếu kém là do các sai lầm của con ngƣời ảnh hƣởng đến việc thực hiện đƣợc các mục tiêu.
e 7 - Kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn, phát hiện kịp thời những yếu kém và hạn chế sai xót xảy ra. Mặt khác, để đƣa ra quyết định, một nguyên tắc cơ bản trong quản lý và chi phí cho chu trình kiểm soát không thể vƣợt quá lợi ích mong đợi từ chu trình kiểm soát đó. Vì vậy, các nhà quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro nhƣng với chi phí cho chu trình kiểm soát quá cao thì không thể áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro. Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ: - Về tính tuân thủ: Kiểm soát nội bộ phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành luật pháp cũng nhƣ các quy định.
Vấn đề này xuất phát từ trách nhiệm của nhà quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị. Mặt khác, KSNB còn phải hƣớng mọi thành viên trong đơn vị tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị để từ đó bảo đảm đạt đƣợc những mục tiêu của đơn vị đề ra. - Về báo cáo tài chính: Kiểm soát nội bộ phải đảm bảo đáng tin cậy, trung thực vì nhà quản lý phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực quy định. - Về mục tiêu hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động: Kiểm soát nội bộ giúp đơn vị sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật và bảo vệ thông tin, mở rộng thị phần, nâng cao uy tín, thực hiện tốt các chiến lƣợc kinh doanh của đơn vị.
Kiểm soát nội bộ khu vực công Trong khu vực công, KSNB cũng rất đƣợc quan tâm. Hƣớng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao đã đƣợc ban hành năm 1992 và đƣợc cập nhật ở năm 2001, qua đó đƣa ra các quan điểm và hƣớng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công. Chẳng hạn, năm 1999 tại Hoa Kỳ trong chính quyền liên bang đƣợc Cơ quan Kiểm toán Nhà nƣớc ban hành chuẩn mực về KSNB. Hầu hết, các chuẩn mực về KSNB trong e 8 khu vực công hiện nay đều đặt trên nền tảng của Báo cáo COSO 1992 với những điểm chính đó là: 1.
Xác định KSNB là một bộ phận/quy trình không thể thiếu trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về: Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động, bao gồm cả việc bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, hƣ hỏng hoặc sử dụng sai mục đích; Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Tuân thủ luật pháp và các quy định. Xác định các chuẩn mực về KSNB trong năm yếu tố đó là: Môi trƣờng kiểm soát, bao gồm việc tạo lập một cơ cấu và kỷ cƣơng trong toàn bộ hoạt động của đơn vị; Đánh giá rủi ro, liên quan đến việc nhận biết, phân tích và lựa chọn những giải pháp đối phó với các sự kiện bất lợi cho đơn vị trong việc thực hiện các mục tiêu; Các hoạt động kiểm soát bao gồm các phƣơng thức cần thiết để kiểm soát nhƣ xét duyệt, phân quyền, kiểm tra, phân tích rà soát…trong từng hoạt động cụ thể của đơn vị; Thông tin và truyền thông liên quan đến việc tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ. Trong điều kiện tin học hóa, hệ thống thông tin còn bao gồm cả việc nhận thức, phát triển và duy trì hệ thống phù hợp với đơn vị; Giám sát bao gồm các hoạt động kiểm tra và đánh giá thƣờng xuyên và định kỳ nhằm không ngừng cải thiện kiểm soát nội bộ, kể cả việc hình thành và duy trì công tác kiểm toán nội bộ. Nhƣ vậy, các chuẩn mực KSNB trong khu vực công khi so sánh với Báo cáo COSO 1992 thì tập trung nhiều vào các chức năng, đặc điểm của đơn vị nhà nƣớc và các quy định có tính quy chuẩn hơn là chỉ mang tính hƣớng dẫn.
Ý nghĩa KSNB trong khu vực công KSNB giúp nhà quản lý đánh giá toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ chức theo hƣớng đánh giá rủi ro, xác định mục tiêu và thiết lập các hoạt động e 9 kiểm soát. Bên cạnh đó, tạo lập môi trƣờng kiểm soát tốt cùng với một hệ thống thông tin hữu hiệu. Vì vậy, về khái niệm cũng nhƣ các chuẩn mực KSNB cần sớm đƣa vào chƣơng trình đào tạo đối với các nhà quản lý ở các đơn vị khu vực công. Theo hƣớng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đối với một tổ chức hành chính công thì sẽ thấy rất rõ tầm quan trọng của tổ chức KSNB trong việc: - Tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB.
Tạo lập một cơ cấu kỷ cƣơng trong toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị. Giúp nhận biết, phân tích và lựa chọn các phƣơng pháp tối ƣu, hạn chế các sự kiện bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu. - Kiểm tra, đánh giá thƣờng xuyên cũng nhƣ định kỳ giữa các bộ phận với nhau hoặc giữa cấp trên với cấp dƣới giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót hoặc cố tình gây ra, và cũng giúp đánh giá và hoàn thiện hơn những bất cập cần bổ sung của hệ thống KSNB. Đối với Việt Nam chúng ta hiện nay, khái niệm KSNB còn rất mới lạ trong khu vực công.
Các nhà quản lý thƣờng dựa vào các quy định của pháp luật, kinh nghiệm về quản lý của cá nhân để đánh giá hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công tác kiểm soát. Bên cạnh đó, kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát không tốt sẽ đi đến tổn hao nguồn lực vào những thủ tục kiểm soát không cần thiết nhƣng lại bỏ đi những rủi ro quan trọng nhƣ rủi ro tài sản bị lãng phí hay thất thoát. Các yếu tố của kiểm soát nội bộ trong khu vực công Nội dung cơ bản các yếu tố của kiểm soát nội bộ trong khu vực công, theo INTOSAI thì có hai nhóm chuẩn mực về KSNB đó là: Chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể. e 10 - Chuẩn mực chung: Bao gồm các quy định về tinh thần tuân thủ; năng lực và phẩm chất; bảo đảm hợp lý; mục tiêu kiểm soát và giám sát.
- Chuẩn mực cụ thể: Đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu; phân chia trách nhiệm; ghi chép kịp thời và đúng đắn các nghiệp vụ; tiếp cận và báo cáo về nhân lực và sổ sách. Theo INTOSAI, một hệ thống KSNB cần đáp ứng các yếu tố đó là: 1. Môi trường kiểm soát Môi trƣờng kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cƣơng, đạo đức và cơ cấu tổ chức cũng nhƣ hình thành nên một sắc thái chung cho tổ chức, ảnh hƣởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Trong một môi trƣờng kiểm soát, có năm nhân tố dƣới đây: 1.
Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo: Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo đƣợc thể hiện qua cá tính, tƣ cách và thái độ khi điều hành công việc của ngƣời lãnh đạo. Nhận thức về KSNB của các thành viên trong tổ chức tùy thuộc rất nhiều vào sự quan tâm nhà lãnh đạo để xây dựng hệ thống KSNB tốt. Ngƣợc lại, nếu các thành viên trong tổ chức nhận thức rằng KSNB không quan trọng thì cũng có thể hiểu là lãnh đạo chƣa quan tâm đúng mức đến KSNB. Điều này cho thấy KSNB chỉ là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến nhiệm vụ và mục tiêu của đơn vị, của tổ chức không còn đạt kết quả nhƣ mong đợi.
Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức bao gồm: Hệ thống báo cáo phù hợp với tổ chức, thiết lập quy trình báo cáo kịp thời và kết quả thực hiện để đạt mục tiêu đề ra; Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo. Mỗi cấp quản lý ý thức đƣợc quyền hạn của mình tới đâu, ở mức độ nào.