phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Quy trình và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội. 6 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ (KSNB) trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990, trong đó trọng tâm làm rõ về khái niệm KSNB, các tiêu chí và công cụ để đánh giá hoạt động KSNB cũng nhƣ các yếu tố cấu thành của KSNB trong doanh nghiệp.
Trong giai đoạn bắt đầu , kiểm soát nội bộ đƣợc quan tâm nhƣ một hình thức hữu hiệu trong việc kiểm soát tiền tại đơn vi ̣đƣợc kiểm toán dƣới góc nhìn của các tổ chức kiểm toán độc lập. Đến năm 1905, thuật ngữ KSNB mới đƣợc ghi nhận bởi các nhà nghiên cứu hàn lâm trongcuốn “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” của Robert Montgomery. Một trong những khái niệm đầu tiên về KSNB đƣợc thể chế hóa vào năm 1992 bởi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và sau đó vào năm 1934 bởi Ủy ban giao dịch chứng khoán của Mỹ trong Luật giao dịch chứng khoán (1934). Thời điểm này, KSNB đƣợc coi nhƣ một công cụ kiểm soát nhằm đảm bảo hoạt động của các đơn vi ̣trong việc đạt đƣợc các mục tiêu cơ bản đề ra.
Tuy nhiên, phần lớn các bên đều cho rằng KSNB đóng vai trò chính trong việc duy trì các kiểm soát nhằm mục tiêu đảm bảo độ tin cậy của thông tin kế toán tại một đơn vị, phục vụ cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà đầu tƣ thực hiện các quyết định đầu tƣ mua bán hay giữ chứng khoán một cách hợp lý. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến KSNB trong mối quan hệ với quản trị doanh nghiệp. 7 z Hướng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào các khía cạnh lý thuyết về hoạt động KSNB, thảo luận về khái niệm, phạm vi, mô hình KSNB ảnh hƣởng tới quản trị doanh nghiệp nói chung hay tính hữu hiệu trong các hoạt động kinh doanh nói riêng. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ: Tác giả Merchant, K.A (1985) về “Kiểm soát trong tổ chức kinh doanh”; Tác giả Anthony R.N và Dearden, Jbedford (1989) về “Kiểm soát quản lý”; tác giả Laura F.Spira và Micheal Page (2002) nghiên cứu về quản trị rủi ro trong mối quan hệ với KSNB.
Nghiên cứu của Nichkon và các cộng sự (2010) đƣa ra kết luận rằng các chính sách về quản trị doanh nghiệp và khả năng học hỏi của nhân viên có ảnh hƣởng đến tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ. Trong các nghiên cứu của Beeler và các cộng sự (1999); Jensen (2003); Fadzil và các cộng sự (2005); Kenyon (2006); Brown và các cộng sự (2008), Nyakundi và các cộng sự (2014), Zippoarah (2015) đều đƣa đến một kết luận chung rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa kiểm soát nội bộ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, sự yếu kém hay thiếu sót trong hệ thống kiểm soát nội bộ đều có tác động tiêu cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Nyakundi và các cộng sự (2014) về ảnh hƣởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả hoạt động tài chính của các DNNVV ở Thành phố Kisumu, Kenya. Mẫu đƣợc lựa chọn nghiên cứu bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng.
Nghiên cứu sử dụng cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp đƣợc thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn, trong khi dữ liệu thứ cấp đƣợc lấy từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đƣợc chọn trong mẫu. Thông qua việc phân tích thống kê mô tả, nghiên cứu cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hƣởng đáng kể đến hiệu quả tài chính của các DNNVV đồng thời cũng nêu ra tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp. Nghiên cứu của Zipporah (2015) đã xem xét tác động của các nhân tố 8 z cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ lên hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất ở Nairobi, Kenya.
Trong nghiên cứu này, hiệu quả tài chính đƣợc đo lƣờng thông qua chỉ tiêu ROA (chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các nhân tố môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông; hoạt động kiểm soát có mối quan hệ thuận hƣớng với hiệu quả tài chính trong khi nhân tố giám sát có mối quan hệ ngƣợc hƣớng. Các nghiên cứu còn đi sâu tìm hiểu sự tác động của từng nhân tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả hoạt động, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ nghiên cứu của Hooks (1994), Ezzamel (1997), Cohen (2003), Springer (2004), Hevesi (2005). Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng môi trƣờng kiểm soát chính là yếu tố quan trọng nhất tác động đến hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, trong đó các nghiên cứu đƣa ra kết luận rằng nhân tố đạo đức và phong cách điều hành, quản lý của ngƣời lãnh đạo có tác động quan trọng tới hành vi của nhân viên, văn hóa của tổ chức và cũng tạo ảnh hƣởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Hướng nghiên cứu thứ hai đề cập nhiều hơn đến mối quan hệ giữa hoạt động KSNB với chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu thuộc nhóm này thƣờng sử dụng cách tiếp cận thực chứng. Chẳng hạn nhƣ tác giả Faudizah, Hasnah và Muhamad (2005) nghiên cứu mối quan hệ chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp với KSNB; tác giả Yuan Li, Yi Liu, Youngbin Zhao (2006) nghiên cứu về vai trò định hƣớng thị trƣờng của doanh nghiệp và KSNB có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới. Bên cạnh đó, tác giả Mohammed Yousef Ayyash (2017) trong nghiên cứu của mình về KSNB trong lĩnh vực ngân hàng tại Palestin đã cho thấy mức độ tuân thủ của các ngân hàng với các quy định về KSNB rất tốt, đồng thời hệ 9 z thống KSNB có ảnh hƣởng tích cực lớn (cùng chiều) đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Theodoridou Paraskevi (2016) nghiên cứu tính hiệu quả của hệ thống KSNB trong các ngân hàng ở Hy Lạp. Nhìn chung, trong suốt giai đoạn hình thành, khái niệm KSNB không ngừng đƣợc mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, trƣớc khi báo cáo COSO (1992) (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission - Uỷ ban của các Tổ chức bảo trợ của Ủy ban phòng chống gian lận của Hoa Kỳ - Ủy ban Treadway) ra đời, KSNB vẫn dừng lại nhƣ là một phƣơng tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC). Đến năm 1992, các công ty ở Hoa Kỳ phát triển nhanh kèm theo đó là tình trạng gian lận gia tăng đã gây thiệt hại nặng nề, cản trở sự tăng trƣởng kinh tế.
Trƣớc bối cảnh đó, nhiều ủy ban đã đƣợc ra đời nhằm nghiên cứu, tìm ra các biện pháp ngăn chặn, khắc phục gian lận và hỗ trợ phát triển kinh tế, cụ thể Ủy ban COSO là một tổ chức đƣợc thành lập dựa trên sự khởi xƣớng và tài trợ của năm Tổ chức gồm: - Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), - Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA - Institute of Internal Auditors), - Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI – Financial Executives Institude), - Hiệp hội kế toán Hoa kỳ (AAA - American Accounting Association), - Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA - Institude of Management Accountants). Báo cáo của COSO bao gồm bốn phần và đƣợc xem là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về hệ thống KSNB làm nền tảng cho hệthống lý thuyết về KSNB sau này. Nhƣ vậy, có thể nói báo cáo của COSO là khung lý thuyết căn bản để các nhànghiên cứu sau này phát triển lý thuyết cũng nhƣ tiếp tục hoàn thiện lý 10 z thuyết đó tốt hơn trong nhữngmôi trƣờng và điều kiện kinh doanh cụ thể. Chinh vì vậy, khi nghiên cứu về KSNB, cácnhà quản lý sẽ nhìn nhận một cách cụ thể hơn về vai trò cũng nhƣ các bộ phận cấuthành của KSNB để có thể thiết kế, vận hành đƣợc một hệ thống KSNB mà phát huyđƣợc hiệu lực và mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình hoạt động.
Sau báo cáo COSO, nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện, trong đó mở rộng và phát triển hệ thống lýluận về KSNB trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hoạt động KSNB trong kiểm toán độc lập và kiểm toán BCTC; vận dụng KSNB của COSO vào ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong Báo cáo Basel của Ủy ban Basel. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc Hoạt động KSNB là một chủ đề mang tính liên ngành, có thể đƣợc tiếp cận từ nhiều góc độ nhƣ quản trị kinh doanh, tài chính kế toán hay thậm chí là luật kinh doanh. Do vậy, nhiều nghiên cứu về KSNB trong nƣớc cũng đã đƣợc thực hiện trong suốt thời gian qua và đƣợc xuất bản dƣới nhiều hình thức nhƣ giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo chuyên đề, công trình nghiên cứu khoa học hay các luận văn, luận án của nhiều trƣờng Đại học tại Việt Nam. Mặt khác, các văn bản pháp luật, văn bản hƣớng dẫn ban hành bởi các cơ quan quản lý nhà nƣớc cũng đã góp phần bổ sung các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cho hoạt động KSNB đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Một số hƣớng nghiên cứu chính có thể đƣợc đề cập cụ thể nhƣ sau. Thứ nhất, hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam đƣợc thể hiện trong các cuốn giáo trình, sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết nghiên cứu về khái niệm KSNB, các yếu tố cấu thành KSNB, trình tự và phƣơng pháp nghiên cứu hoạt động KSNB của kế toán viên cũng nhƣ những hạn chế tiềm tàng của một hệ thống KSNB.