Chương 1. Cơ sở lý luận về vốn và hoạt động huy động vốn trong doanh nghiệp. Phương pháp nghiên cứu. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và các hình thức huy động vốn tại Tổng công ty Giấy Việt Nam.
Một số giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại Tổng công ty Giấy Việt Nam. 12 Chƣơng I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN 1. Khái niệm vốn trong hoạt động của doanh nghiệp 1.
Khái niệm vốn Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền (nhưng có giá trị lớn hơn vốn ban đầu). Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành kinh doanh. Từ những phân tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai tò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vai trò của vốn Một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh khi có các tài sản để phục vụ cho mục đích đó. Vì vậy để có đủ khối lượng tài sản cần thiết theo yêu cầu, chủ doanh nghiệp phải có được sự trao đổi phù hợp 13 về mặt giá trị đối với các tài sản mà doanh nghiệp cần. Một cách khái quát, vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm là có được đủ lượng giá trị cần thiết để đạt được quyền sử dụng các tài sản phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp hay doanh nghiệp cần có vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các tài sản trong doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, có nhiều cách phân loại tài sản trong doanh nghiệp, cách phân chia phổ biến là chia tài sản trong doanh nghiệp thành 2 loại: tài sản lưu động và tài sản cố định, tuy nhiên để có được cái nhìn khái quát hơn về hình thái biểu hiện của vốn trong doanh nghiệp thì cách phân chia tài sản thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình là hợp lý hơn bởi vốn không chỉ thể hiện ở giá trị của những tài sản thực mà còn thể hiện ở những tài sản được coi là vô hình như bằng phát minh sáng chế, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu… hay vốn còn được biểu hiện bằng giá trị của các tài sản tài chính gồm các loại chứng khoán, tiền, giấy tờ có giá… Vốn được coi là một loại hàng hoá đặc biệt vì nó có thể không cần trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà vẫn có thể sinh lời khi được lưu thông trên thị trường vốn nhờ vào quá trình phân phối lại giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất. Như vậy, vốn của doanh nghiệp có thể được hiểu chính là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp và các tài sản đó phải được sử dụng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận. Phân loại vốn và các hình thức huy động vốn 1. Phân loại vốn: Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, và hình thức huy động vốn có thể chia nguồn vốn kinh doanh thành hai loại: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả.
* Vốn chủ sở hữu: là tổng hợp toàn bộ các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, các quỹ của doanh nghiệp, nguồn kinh phí sự nghiệp được cấp còn lại chưa chi và nguồn kinh phí đã hình thành tài sản cố định. Trong đó Vốn chủ sở hữu được cấu thành từ hai bộ phận: 14 Vốn chủ sở hữu: Bao gồm toàn bộ vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, các quỹ của doanh nghiệp, bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác, cổ phiếu quỹ, chênh lệch đánh giá lại tài sản và chênh lệch tỷ giá hối đoái, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối và nguồn vốn đầu tư XDCB. Nguồn kinh phí và quỹ khác: Gồm tổng giá trị các quỹ khen thưởng, phúc lợi, nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án được cấp để chi tiêu cho các hoạt động sự nghiệp và nguồn kinh phí đã hình thành tài sản cố định. *Nợ phải trả: Là toàn bộ số nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn: Là toàn bộ giá trị các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán dưới một năm hoặc dưới một chu kỳ kinh doanh, các khoản vay ngắn hạn và giá trị các khoản chi phí phải trả, tài sản thừa chờ xử lý, các khoản nợ nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn và các khoản phải trả, phải nộp khác. Nợ dài hạn: Là toàn bộ giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán ban đầu trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh: khoản phải trả cho người bán, phải trả dài hạn nội bộ, vay và nợ dài hạn, thuế thu nhập hoãn lại phải trả và các khoản phải trả dài hạn khác. Huy động vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu được coi là nguồn vốn dài hạn và được phân thành những bộ phận chủ yếu sau: Nguồn vốn góp ban đầu. Lợi nhuận giữ lại.
Tăng vốn bằng phát hành thêm cổ phiếu mới. Nguồn vốn góp ban đầu 15 Khi thành lập doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định để hoạt động, tuỳ thuộc vào hình thức sở hữu và loại hình doanh nghiệp mà quy mô vốn góp ban đầu khác nhau và được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng nói chung đó là vốn do các chủ sở hữu doanh nghiệp phải bỏ ra. Như vậy để có được nguồn vốn này phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tích luỹ vốn và khả năng đóng góp của chính các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Lợi nhuận giữ lại Một điều quan trọng để có được nguồn vốn này là doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, và sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Nhà nước và các cổ đông thì phần lợi nhuận còn lại mới được coi là nguồn huy động của doanh nghiệp.
Quy mô của nguồn vốn này phụ thuộc rất lớn vào kết quả kinh doanh, chính sách thuế thu nhập và chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Trong trường hợp là một doanh nghiệp nhà nước thì tuỳ thuộc vào chính sách khuyến khích hay hạn chế đầu tư mà nguồn vốn này có quy mô lớn hay nhỏ. Lợi nhuận giữ lại được coi là nguồn vốn nội sinh của doanh nghiệp và thường được các nhà quản lý doanh nghiệp ưa thích do có những ưu điểm sau: Giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài, đảm bảo duy trì quyền kiểm soát doanh nghiệp của các nhà quản lý. Sử dụng lợi nhuận giữ lại sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt được các chi phí liên quan đến việc huy động thêm vốn.
Tuy nhiên do chi phí của nguồn vốn này được xác định là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, vậy nên khi quyết định huy động vốn từ nguồn này thì việc đánh giá nguồn vốn này là rẻ hay đắt là phụ thuộc vào kỳ vọng của các nhà quản lý về các lợi ích mà họ nhận được từ việc sử dụng nguồn vốn này với những gì họ phải từ bỏ. Mặt khác việc sử dụng nguồn vốn này còn liên quan đến một vấn đề rất nhạy cảm - đó là lợi tức dành cho các cổ đông, việc xác định một tỷ lệ phân chia làm hài hoà lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý có ý nghĩa quyết định đến quy mô của nguồn vốn này. 16 Tăng vốn bằng phát hành thêm cổ phiếu mới Phát hành thêm cổ phiếu mới là một phương thức huy động vốn rất được ưa chuộng khi các doanh nghiệp có nhiều cơ hội kinh doanh thuận lợi và cần vốn để thực hiện các dự án đầu tư có tính dài hạn, hoặc để điều chỉnh cơ cấu vốn hiện tại của doanh nghiệp. Phát hành thêm cổ phiếu mới gồm có phát hành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai công cụ trên hoặc phối hợp cả hai để đem lại kết quả tốt nhất cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên do những đặc điểm của mình nên cổ phiếu thường là loại cổ phiếu phổ biến nhất và giữ vai trò chủ yếu trong các giao dịch liên quan đến cổ phiếu. Tuy vậy, việc huy động cổ phiếu thường có một số bất lợi chung như sau: Cổ tức không được miễn trừ thuế. Chi phí phát hành, bảo lãnh phát hành lớn. Huy động nợ Đối với các doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động thì nhu cầu vay nợ là một vấn đề tất yếu, để đáp ứng cho nhu cầu vốn của mình thì doanh nghiệp luôn phải có sự so sánh, lựa chọn giữa các hình thức tài trợ, không phải lúc nào tài trợ bằng cổ phiếu cũng là tối ưu và để khắc phục những hạn chế của hình thức này thì doanh nghiệp có thể lựa chọn vay nợ để tài trợ cho nhu cầu vốn của mình bởi hình thức này cung cấp cho doanh nghiệp rất nhiều sự lựa chọn gồm: Vay các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Nguồn vốn tín dụng thương mại. Phát hành trái phiếu công ty Các nguồn tài trợ ngắn hạn khác.