Tổng quan luận án

Chăm sóc trước, trong và sau sinh (CSTTSS) là cấu phần cốt lõi của chương trình Làm mẹ an toàn thuộc Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) do Bộ Y tế ban hành. Theo thống kê y tế toàn cầu, mỗi năm có khoảng 289.000 phụ nữ tử vong liên quan đến mang thai và sinh đẻ, hơn 2 triệu trẻ tử vong chu sinh và hơn 2,9 triệu trẻ tử vong sơ sinh. Tại Việt Nam, các báo cáo từ Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em (2016) và Cuộc điều tra đánh giá các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam (MICS 2014) chỉ ra rằng mặc dù tỷ suất tử vong mẹ (MMR) và tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi (IMR) có xu hướng giảm, khoảng cách bất bình đẳng theo vùng miền và giữa các nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn tồn tại dai dẳng. Tỷ suất tử vong mẹ ở khu vực nông thôn cao gấp khoảng 2 lần khu vực thành thị; tử vong mẹ và trẻ dưới 1 tuổi ở nhóm DTTS cao gấp lần lượt 3 lần, 2,5 lần và 3,5 lần so với dân tộc Kinh. Về thực hành y tế, tỷ lệ khám thai từ 4 lần trở lên ở bà mẹ dân tộc Kinh đạt 82,1%, trong khi ở nhóm DTTS chỉ đạt 32,7%; tỷ lệ sinh được nhân viên y tế (NVYT) hỗ trợ ở người Kinh cao hơn người DTTS 30,7%.

Nhằm thu hẹp khoảng cách y tế giữa các nhóm dân cư, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc; Quyết định số 52/2009/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án kiểm soát dân số các vùng biển đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020”; Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 21-NQ/TW/2017 về công tác dân số trong tình hình mới. Tại huyện ven biển Hòa Bình (tỉnh Bạc Liêu), đồng bào dân tộc Khmer chiếm khoảng 35,0% dân số. Báo cáo năm 2016 của Trung tâm Y tế huyện Hòa Bình cho thấy các chỉ số chăm sóc thai sản của bà mẹ Khmer ở mức rất thấp: tỷ lệ khám thai từ 3 lần trở lên chỉ đạt 50,0% (chưa triển khai chỉ tiêu khám thai từ 4 lần trở lên), sinh con tại cơ sở y tế (CSYT) đạt 85,0%, và khám lại sau sinh chỉ đạt 60,0%. Các con số này thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của hai huyện ven biển khảo sát (85,0%; 98,5%; 86,5%) cũng như bình quân toàn quốc (91,7%; 99,9%; 92,0%). Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: các chương trình CSSKSS hiện hành chưa xây dựng được giải pháp can thiệp thích ứng với đặc thù kinh tế, văn hóa, xã hội (KT-VH-XH) và rào cản ngôn ngữ của đồng bào Khmer vùng ven biển. Luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu về việc thiết kế các giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe (GDSK) nhằm nâng cao tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành (KT-TĐ-TH) CSTTSS đạt từ 70,0% trở lên.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 mục tiêu:

  1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 4 xã ven biển huyện Hòa Bình và Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu năm 2017.
  2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 4 xã ven biển huyện Hòa Bình và Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu năm 2017.
  3. Đánh giá kết quả can thiệp tăng cường kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 2 xã ven biển huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (can thiệp từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2019).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu định lượng: Bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi sinh sống tại địa bàn nghiên cứu.
  • Đối tượng nghiên cứu định tính: Bà mẹ dân tộc Khmer (thuộc nhóm có thực hành và không thực hành CSTTSS), thành viên gia đình (chồng, mẹ chồng, mẹ ruột), nhân viên y tế tuyến xã, cán bộ lãnh đạo/quản lý y tế tuyến tỉnh, huyện, xã và các vị chức sắc tôn giáo (Trụ trì chùa Khmer).
  • Phạm vi không gian: 4 xã ven biển thuộc tỉnh Bạc Liêu, gồm 2 xã can thiệp thuộc huyện Hòa Bình (xã Vĩnh Hậu, xã Vĩnh Thịnh) và 2 xã đối chứng thuộc huyện Đông Hải (xã Long Điền, xã Long Điền Đông).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ năm 2016 đến năm 2019; điều tra ban đầu (trước can thiệp) tiến hành năm 2017; các hoạt động can thiệp triển khai từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2019; sau đó tiến hành điều tra đánh giá sau can thiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến ba giai đoạn chăm sóc thai sản theo chuẩn mực khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2010, 2015) và Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS của Bộ Y tế (2009, bổ sung 2016):

Giai đoạn chăm sóc Khuyến cáo của WHO (2010, 2015) và Bộ Y tế (2009, 2016) Bằng chứng nghiên cứu quốc tế Bằng chứng nghiên cứu tại Việt Nam
Chăm sóc trước sinh (CSTS) - Khám thai từ 3-4 lần trở lên, khám sớm trong 3 tháng đầu tại CSYT do NVYT thực hiện.
- Tiêm đủ liều vắc xin uốn ván (VAT).
- Uống bổ sung viên sắt/acid folic.
- Xét nghiệm máu, nước tiểu, GDSK dinh dưỡng, nhận biết nguy cơ (chảy máu âm đạo, đau bụng, phù, đau đầu, co giật).
- Araya (2013, Eritrea): 32,1% khám thai ≥ 3 lần; 61,2% hiểu sai mốc khám thai; 17,4% biết dấu hiệu ra máu.
- Hajela (2014, Ấn Độ): 32,4% không biết khám 3 lần; 38,0% không biết tiêm VAT; 76,8% không biết uống sắt.
- Lilungulu và cs (2016, Tanzania): 76,8% không biết bổ sung sắt; 39,0% khám thai ≥ 3 lần.
- Mesko và cs (2013, Nepal): 50,0% duy trì lao động nặng đến lúc chuyển dạ.
- Hà Thanh Trang (2016, Tuyên Quang): 10,0%-20,0% bà mẹ dân tộc Tày không biết khám ≥ 3 lần và tiêm VAT; 32,4% không khám thai ≥ 3 lần.
- Lại Thị Minh Trà (2016, Bình Định): 50,0% bà mẹ Chăm không biết cần khám thai.
- Phạm Đình Đạt (2013, Yên Bái): 45,1% không biết khám thai ≥ 3 lần; 40,0% không biết tiêm VAT.
- Bùi Thị Thu Hà và cs (2012): Tổng hợp 2006-2011 cho thấy 50,0%-70,0% bà mẹ DTTS thiếu hiểu biết về CSTS.
Chăm sóc trong sinh (CSTgS) - Sinh con tại CSYT có NVYT có kỹ năng đỡ sinh.
- Theo dõi chuyển dạ, nhận biết sớm dấu hiệu nguy hiểm (vỡ ối sớm, rặn lâu, băng huyết, ngôi bất thường, nhau không bong, co giật).
- Belda và Gebremariam (2014, Ethiopia): 5,9% bà mẹ không biết sinh tại CSYT.
- Khamphanh Prabouasone (2013, Lào): 26,6% bà mẹ DTTS không biết sinh tại CSYT; 38,1% không biết NVYT đỡ sinh.
- UNFPA (2015): Toàn cầu có 34,4% bà mẹ không sinh con tại CSYT.
- Disha và cs (2015): 27,0% mụ vườn đỡ; 50,0% người thân đỡ đẻ tại nhà.
- Bộ Y tế (2016): Các huyện nghèo (Quế Phong, Bảo Lạc, Tu Mơ Rông) còn 60,0% sinh tại nhà.
- Phạm Đình Đạt (2013): 38,8% sinh tại nhà (76,4% người nhà đỡ, 9,6% mụ vườn đỡ, chỉ 5,0% NVYT đỡ).
- Hà Ngọc Trinh (2012): Sinh tại nhà ở DTTS chiếm 69,5%, NVYT đỡ chỉ đạt 37,6%.
- Lại Thị Minh Trà (2016): 50,0% bà mẹ Chăm tin mụ vườn xoa bụng nhẹ hơn NVYT.
Chăm sóc sau sinh (CSSS) - Khám lại sau sinh 4 lần (ngày đầu, ngày 3, ngày 7-14 và tuần thứ 6).
- Chăm sóc trẻ: lau khô, ủ ấm, chăm sóc mắt, rốn, bú sớm trong 1 giờ đầu, bú mẹ hoàn toàn.
- Chăm sóc mẹ: vệ sinh, dinh dưỡng, phát hiện sản dịch hôi, băng huyết, sốt, co giật.
- Hajela (2014): 58,0% không biết chăm sóc trẻ; kiêng cữ theo chế độ Kajal; 68,4% ăn kiêng.
- Khamphanh Prabouasone (2013): 41,0% không biết cho bú sớm; 52,4% coi sữa non có hại.
- Manisha Silwal (2011, dân tộc Raute - Nepal): 61,2% không biết nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ; kiêng cữ 3-11 ngày, sợ đưa con ra ngoài bị thần linh bắt.
- Banda (2013, Malawi): 22,0% cho rằng CSSS không cần thiết.
- Lê Thiện Thái và Ngô Văn Toàn (2011): Lau khô đạt 61,8%, ủ ấm 56,7%, bú sớm 51,5%, chăm sóc mắt 5,6%, da kề da 3,4%.
- Điều tra MICS (2014): Bú sớm giờ đầu chỉ đạt 26,5%; bú mẹ hoàn toàn dưới 6 tháng đạt 24,3%.
- Nguyễn Vân Hà (2014, Hà Nam): Cho uống sữa công thức ngày đầu 24,0%, tuần đầu 56,0%.
- Bùi Thị Thu Hà và cs (2012): Quan niệm âm dương, tắm nước lá rừng, nằm than, kiêng mỡ, kiêng tắm rửa.

Về các yếu tố liên quan đến KT-TĐ-TH, luận án tổng thuật các công trình:

  • Yếu tố cá nhân: Nwaru, Wu và Hemminki (2010) ghi nhận tuổi >25 liên quan khám thai ≥ 3 lần; Abdurahmen, Addissie và Molla (2012) chứng minh tuổi 15-19 sinh tại nhà cao gấp 6,3 lần nhóm lớn tuổi hơn; Phạm Phương Lan (2014) chỉ ra bà mẹ ≥ 30 tuổi có kiến thức, thực hành CSSS cao gấp 2,8 và 3,3 lần nhóm < 30 tuổi; Yang và Yoshitoku (2010) tại Lào nhận thấy học vấn từ THCS trở lên có tỷ lệ khám thai gấp 6,8 lần nhóm tiểu học, thu nhập cao thực hành tốt gấp 2,6 lần; Nguyễn Xuân Oanh (2015) xác định nghề làm nông không khám thai đầy đủ cao gấp 7,5 lần nghề khác; Sartika NA và cs (2021) tại Indonesia ghi nhận thiếu hiểu biết ở dân tộc thiểu số Melayu làm tăng nguy cơ sinh non 14 lần và không khám sau sinh 4,9 lần.
  • Yếu tố gia đình và tiếp cận: Yang và Yoshitoku (2010) chỉ ra nhà cách CSYT <4km thực hành CSTS cao gấp 2,9 lần nhóm >4km; Lại Thị Minh Trà (2016) ghi nhận khoảng cách ≥5km làm tăng nguy cơ sinh không có NVYT đỡ lên 4,9 lần; Banda (2013), Abdurahmen và cs (2012), Mesko và cs (2013), Kariuki và Seruwagi (2016), Nguyễn Văn Ty (2016) đều khẳng định vai trò quyết định của người chồng và gia đình nhiều thế hệ đến hành vi sinh đẻ của bà mẹ.
  • Yếu tố can thiệp truyền thông: Các dự án truyền thông đài phát thanh Mudziwanthu của Zamawe, Banda và Dube (2016 tại Malawi), đài Radio Nepal của Acharya và cs (2015), mô hình tài liệu song ngữ tiếng bản địa của Sarah và cs (2015), can thiệp mở rộng mạng lưới 21 NVYT của Richa Singh và cs (2014), và hỗ trợ phòng khám lưu động của Sharma và cs (2016).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các can thiệp tại Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên hoặc vùng đồng bào dân tộc Chăm, rất hiếm công trình nghiên cứu can thiệp toàn diện bao phủ cả ba giai đoạn (trước, trong và sau sinh) dành riêng cho bà mẹ dân tộc Khmer sinh sống tại các dải ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc thiết kế giải pháp truyền thông GDSK dựa vào cộng đồng, gắn kết chặt chẽ với các thiết chế văn hóa đặc thù như chùa Khmer, Trụ trì, mạng lưới nhân viên y tế và thân nhân gia đình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng mô hình lý thuyết PRECEDE - PROCEED của Green và Kreuter (2005) làm khung phân tích và thiết kế chương trình can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe. Mô hình gồm 9 giai đoạn: từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 là bước chẩn đoán xã hội, dịch tễ học, hành vi - môi trường, giáo dục - sinh thái và hành chính - chính sách (khung PRECEDE); giai đoạn 6 là triển khai can thiệp; giai đoạn 7 đến 9 là đánh giá quá trình, tác động và kết quả (khung PROCEED).

Khung lý thuyết của luận án phân loại các yếu tố tác động đến hành vi CSTTSS của bà mẹ Khmer thành ba nhóm:

  1. Nhóm yếu tố tiền đề: Các đặc điểm cá nhân (tuổi, học vấn, nghề nghiệp, số con, tôn giáo, thời gian cư trú, tiếp cận thông tin) và hệ thống kiến thức, thái độ, niềm tin của bà mẹ về khám thai, tiêm VAT, uống viên sắt, dinh dưỡng, nơi sinh, chăm sóc rốn, cho con bú sớm và nhận biết dấu hiệu bất thường ở mẹ và con.
  2. Nhóm yếu tố tăng cường: Sự ủng hộ, động viên và thúc đẩy từ người thân trong gia đình (chồng, mẹ chồng, mẹ ruột), vai trò định hướng tinh thần của Trụ trì chùa Khmer, cùng hoạt động tư vấn, truyền thông nhóm của nhân viên y tế xã và y tế ấp.
  3. Nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi: Hoạt động truyền thông GDSK đa kênh (loa phát thanh ấp/xã, tờ rơi song ngữ Việt - Khmer), các buổi sinh hoạt tư vấn trực tiếp; năng lực chuyên môn của mạng lưới NVYT cơ sở; sự sẵn có của thuốc thiết yếu (VAT, viên sắt), vật tư và trang thiết bị tại Trạm Y tế xã ven biển.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có nhóm chứng, so sánh trước - sau can thiệp giữa nhóm can thiệp (huyện Hòa Bình) và nhóm đối chứng (huyện Đông Hải). Tiến trình gồm 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Đánh giá thực trạng ban đầu năm 2017 và lập kế hoạch can thiệp.
    • Giai đoạn 2: Triển khai các hoạt động can thiệp (tháng 7/2018 - tháng 12/2019).
    • Giai đoạn 3: Đánh giá kết quả sau can thiệp.
  • Chọn mẫu và thu thập số liệu:
    • Định lượng: Điều tra toàn bộ hoặc chọn mẫu ngẫu nhiên bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 4 xã theo danh sách quản lý trạm y tế. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc dịch sang tiếng Khmer (được kiểm định tính giá trị và độ tin cậy thang đo thái độ).
    • Định tính: Chọn mẫu có chủ đích. Thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) lãnh đạo y tế tuyến tỉnh/huyện, lãnh đạo UBND xã, Trụ trì chùa Khmer; Thảo luận nhóm (TLN) nhân viên y tế tuyến xã, nhóm bà mẹ Khmer có thực hành, nhóm bà mẹ không thực hành, và nhóm người thân (chồng/mẹ chồng/mẹ ruột).
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu:
    • Định lượng: Phân tích thống kê mô tả, kiểm định Chi-square so sánh tỷ lệ giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau can thiệp. Sử dụng phân tích đơn biến và mô hình hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến KT-TĐ-TH (tính toán Odds Ratio - OR, khoảng tin cậy 95% CI và p-value).
    • Định tính: Gỡ băng ghi âm, phiên chuyển văn bản, phân loại chủ đề (thematic analysis) nhằm xác thực các rào cản tập quán và lý giải cơ chế thay đổi hành vi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này cung cấp hệ thống cơ sở lý luận về chăm sóc thai sản theo chu kỳ vòng đời từ trước sinh, trong sinh đến sau sinh. Tác giả luận giải tính cấp thiết của việc giảm thiểu biến chứng sản khoa (băng huyết, sản giật, nhiễm khuẩn hậu sản) và tử vong sơ sinh thông qua quản lý thai nghén chặt chẽ. Luận án phân tích bối cảnh dịch tễ học và các bất bình đẳng y tế giữa người Kinh và các nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Tác giả tổng thuật toàn diện các nghiên cứu về KT-TĐ-TH, chỉ ra các yếu tố cản trở như rào cản địa lý vùng biển, tập quán sinh đẻ tại nhà, kiêng cữ lạc hậu, vai trò chi phối của người chồng và khoảng trống trong truyền thông bằng tiếng Khmer. Chương này cũng phân tích mô hình lý thuyết PRECEDE - PROCEED của Green và Kreuter (2005), làm rõ cách áp dụng vào can thiệp y tế công cộng, đồng thời giới thiệu đặc điểm KT-VH-XH, điều kiện tự nhiên của huyện Hòa Bình và tỉnh Bạc Liêu.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu can thiệp có nhóm chứng kết hợp định tính và định lượng. Tác giả xác lập rõ tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu định lượng (bà mẹ Khmer có con 0-2 tuổi) và đối tượng định tính (bà mẹ, chồng, mẹ chồng, NVYT, lãnh đạo ban ngành, Trụ trì chùa). Quy trình can thiệp kéo dài 18 tháng (7/2018 - 12/2019) được cấu trúc hóa theo mô hình PRECEDE - PROCEED qua các hoạt động: phát thanh thông điệp chăm sóc thai sản trên hệ thống loa xã/ấp; xuất bản và phát tờ rơi song ngữ Việt - Khmer; tổ chức truyền thông nhóm và tư vấn trực tiếp của NVYT; tập huấn nâng cao năng lực cho trạm y tế; huy động Trụ trì chùa Khmer vận động người dân trong các dịp lễ hội tôn giáo; đảm bảo thuốc và vật tư y tế. Chương này trình bày chi tiết công cụ thu thập số liệu, các khái niệm, định nghĩa ca bệnh, biến số nghiên cứu, thang đo đánh giá KT-TĐ-TH, quy trình kiểm định thang đo thái độ, phương pháp phân tích số liệu định lượng (phân tích đơn biến, đa biến) và định tính, cùng các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày các phát hiện thực chứng qua các bảng số liệu chi tiết:

  • Đặc điểm nhân khẩu của mẫu điều tra: Độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, khoảng cách địa lý đến trạm y tế, số lần mang thai và số con của các bà mẹ Khmer ở cả hai nhóm can thiệp và đối chứng.
  • Thực trạng trước can thiệp (năm 2017): Kiến thức đúng về CSTS (khám thai ≥ 3-4 lần, tiêm VAT, uống sắt), CSTgS (sinh tại CSYT) và CSSS (khám lại sau sinh, chăm sóc rốn, bú sớm) ở mức thấp; sự hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm (chảy máu, co giật, sốt cao, vàng da sớm ở trẻ) còn hạn chế; tồn tại thái độ e ngại CSYT và các thực hành kiêng cữ truyền thống (nằm than, kiêng tắm, ăn mặn).
  • Phân tích các yếu tố liên quan: Phân tích đơn biến và hồi quy đa biến khẳng định học vấn của bà mẹ, nghề nghiệp, số con, sự ủng hộ của người chồng/gia đình và mức độ tiếp cận các kênh truyền thông có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với kiến thức, thái độ và thực hành CSTTSS.
  • Hiệu quả can thiệp: Sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ đạt kiến thức đúng, thái độ tích cực và thực hành đúng ở nhóm can thiệp (xã Vĩnh Hậu, Vĩnh Thịnh) so với trước can thiệp và so với nhóm đối chứng (xã Long Điền, Long Điền Đông). Tỷ lệ khám thai đầy đủ, sinh con tại trạm y tế/bệnh viện, tiêm đủ mũi VAT, uống viên sắt và khám lại sau sinh đều gia tăng vượt bậc, hướng tới mốc mục tiêu ≥ 70,0%.

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận đối chiếu các kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế. Tác giả thảo luận về tính đại diện của thông tin chung, thực trạng KT-TĐ-TH giai đoạn trước can thiệp của bà mẹ Khmer ven biển, so sánh với các nghiên cứu của Hà Thanh Trang (2016), Lại Thị Minh Trà (2016), Phạm Đình Đạt (2013) và Bùi Thị Thu Hà (2012). Tác giả phân tích sâu cơ chế tác động của các yếu tố gia đình và xã hội, đặc biệt là vai trò của người chồng và uy tín của các vị sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer. Luận án bàn luận chi tiết về mức độ thành công của các giải pháp can thiệp dựa trên khung PRECEDE - PROCEED, khẳng định tính đúng đắn của việc kết hợp truyền thông đại chúng (loa xã) với truyền thông trực tiếp (tư vấn nhóm, tờ rơi chữ Khmer) và cải thiện dịch vụ y tế tuyến xã. Cuối cùng, chương này phân tích các ưu điểm về tính phù hợp, tính khả thi, tính mới của đề tài và thừa nhận các hạn chế phương pháp luận.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long áp dụng toàn diện mô hình lý thuyết PRECEDE - PROCEED của Green và Kreuter vào việc chẩn đoán, thiết kế, thực thi và đánh giá can thiệp truyền thông thay đổi hành vi CSTTSS cho phụ nữ dân tộc Khmer ven biển.
  • Luận án cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm về tác động đồng thời của ba nhóm yếu tố: tiền đề (nhận thức cá nhân), tăng cường (gia đình, chức sắc tôn giáo) và tạo điều kiện thuận lợi (dịch vụ y tế, tài liệu song ngữ) đối với việc chuyển đổi hành vi sức khỏe sinh sản của đồng bào DTTS.

Các đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Thiết kế và chuẩn hóa bộ tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe đặc thù, bao gồm tờ rơi song ngữ (chữ Khmer và tiếng Việt) minh họa trực quan, phù hợp với trình độ học vấn và văn hóa tâm linh của đồng bào Khmer.
  • Thiết lập và thử nghiệm thành công mô hình phối hợp liên ngành tại tuyến cơ sở: huy động Trụ trì chùa Khmer, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cùng tham gia với nhân viên y tế trong việc tuyên truyền, vận động bà mẹ và người thân thay đổi tập quán chăm sóc thai sản.
  • Can thiệp đã tạo ra sự cải thiện mang ý nghĩa thống kê về các chỉ số KT-TĐ-TH của bà mẹ Khmer tại huyện Hòa Bình, đưa các tỷ lệ thực hành y tế an toàn (khám thai định kỳ, sinh tại cơ sở y tế, tiêm VAT, bú mẹ sớm) đạt và vượt mục tiêu can thiệp đề ra (≥ 70,0%).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Ngành y tế tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh có đông đồng bào Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần duy trì và nhân rộng mô hình can thiệp truyền thông GDSK đa kênh kết hợp phát thanh tiếng Khmer và tờ rơi song ngữ.
  • Lồng ghép thường xuyên nội dung truyền thông Làm mẹ an toàn vào các buổi sinh hoạt tín ngưỡng tại các chùa Khmer, phát huy vai trò của các sư sãi và Trụ trì.
  • Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng giao tiếp văn hóa cho nhân viên y tế thôn ấp, đặc biệt là khả năng sử dụng tiếng Khmer để trực tiếp tư vấn cho các bà mẹ và thân nhân nam giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nghiên cứu được triển khai tại 4 xã ven biển thuộc 2 huyện (Hòa Bình và Đông Hải) của tỉnh Bạc Liêu, do đó các kết quả và đặc điểm hành vi phản ánh chủ yếu nhóm dân cư ven biển có điều kiện KT-XH đặc thù, khả năng ngoại suy cho các cộng đồng người Khmer sinh sống ở vùng nội địa hoặc các tỉnh khác có thể có những khác biệt nhất định.
  • Thời gian theo dõi và can thiệp thực tế diễn ra trong khoảng 18 tháng (từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2019), nghiên cứu chưa thể đánh giá được tính duy trì và sự bền vững của các hành vi CSTTSS sau khi rút bỏ các nguồn lực hỗ trợ can thiệp trực tiếp.
  • Thu thập dữ liệu thực hành dựa trên phỏng vấn hồi cứu các bà mẹ có con từ 0-2 tuổi về các hành vi đã diễn ra trong quá trình mang thai và sinh nở trước đó, điều này không thể tránh khỏi hiện tượng sai số nhớ lại (recall bias).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiến hành các nghiên cứu dọc hoặc đánh giá lặp lại sau 3 đến 5 năm nhằm kiểm chứng tính bền vững dài hạn của các hành vi y tế đã được thiết lập tại địa bàn can thiệp.
  • Thử nghiệm và mở rộng mô hình can thiệp truyền thông đa kênh dựa vào thiết chế tôn giáo và tài liệu song ngữ cho các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số khác tại các vùng khó khăn.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn sâu sắc đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Xã hội học y tế và Dân số học: Có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, cách thức vận dụng mô hình lý thuyết PRECEDE - PROCEED trong can thiệp thay đổi hành vi cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em (từ cấp huyện, tỉnh đến Bộ Y tế): Cung cấp bằng chứng thực tiễn để xây dựng các can thiệp y tế công cộng thích ứng văn hóa, giải quyết bất bình đẳng sức khỏe vùng ven biển và đồng bào DTTS.
  • Cán bộ y tế tuyến cơ sở, nhân viên y tế thôn ấp và các tổ chức phát triển xã hội: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận cộng đồng, kỹ năng vận động người thân nam giới và các chức sắc tôn giáo tham gia chương trình CSSKSS.

Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Khung lý thuyết can thiệp chi tiết (Sơ đồ mô hình PRECEDE - PROCEED); Các phụ lục về bảng câu hỏi và tờ rơi truyền thông song ngữ tiếng Khmer; Hướng dẫn phỏng vấn sâu Trụ trì chùa và các nhóm thảo luận gia đình; Phương pháp kiểm định tính giá trị và độ tin cậy của thang đo thái độ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án sử dụng mô hình lý thuyết nào để xây dựng chương trình can thiệp và gồm những cấu phần nào? Luận án áp dụng mô hình PRECEDE - PROCEED của Green và Kreuter (2005). Chương trình can thiệp tập trung tác động vào ba nhóm yếu tố: Yếu tố tiền đề (nâng cao kiến thức, thái độ tích cực của bà mẹ về CSTS, CSTgS, CSSS); Yếu tố tăng cường (vận động sự hỗ trợ từ người chồng, gia đình, cộng đồng, chức sắc tôn giáo - Trụ trì chùa, và NVYT); Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi (tổ chức truyền thông loa đài, phát tờ rơi song ngữ Việt - Khmer, tập huấn NVYT và bảo đảm thuốc, trang thiết bị tại trạm y tế).

  2. Trước khi can thiệp, các chỉ số thực hành chăm sóc thai sản của bà mẹ Khmer tại huyện Hòa Bình đạt mức độ nào? Theo báo cáo năm 2016 của huyện Hòa Bình, tỷ lệ khám thai từ 3 lần trở lên của bà mẹ dân tộc Khmer chỉ đạt 50,0% (chưa triển khai chỉ tiêu khám ≥ 4 lần), sinh con tại CSYT đạt 85,0%, và khám lại sau sinh đạt 60,0%. Các tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của hai huyện ven biển (85,0%; 98,5%; 86,5%) và mức bình quân toàn quốc (91,7%; 99,9%; 92,0%).

  3. Nghiên cứu được triển khai tại những địa bàn cụ thể nào và trong khoảng thời gian nào? Nghiên cứu thực hiện tại 4 xã ven biển thuộc tỉnh Bạc Liêu: 2 xã can thiệp là xã Vĩnh Hậu và xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình); 2 xã đối chứng là xã Long Điền và xã Long Điền Đông (huyện Đông Hải). Thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến 2019, trong đó khảo sát ban đầu vào năm 2017 và giai đoạn can thiệp thực địa diễn ra từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2019.

  4. Những đối tượng nào đã tham gia vào phần nghiên cứu định tính của luận án? Nghiên cứu định tính thu thập thông tin qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với: các bà mẹ dân tộc Khmer (cả nhóm có thực hành và không thực hành CSTTSS), thân nhân gia đình (chồng, mẹ chồng, mẹ ruột), nhân viên y tế tuyến xã, cán bộ lãnh đạo/quản lý ngành y tế tuyến tỉnh và huyện, cán bộ quản lý ban ngành cấp xã (UBND, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên), và Trụ trì chùa Khmer trên địa bàn.

  5. Tài liệu truyền thông trong can thiệp của luận án có điểm gì đặc thù? Luận án đã thiết kế bộ tài liệu tờ rơi GDSK riêng biệt về ba giai đoạn CSTS, CSTgS và CSSS được in bằng chữ Khmer kết hợp tiếng Việt, sử dụng hình ảnh trực quan minh họa phù hợp với văn hóa, tập quán và khả năng tiếp nhận thông tin của đồng bào dân tộc Khmer vùng ven biển.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Châu Hồng Ngọc là công trình nghiên cứu y tế công cộng được thực hiện công phu, giải quyết bài toán nâng cao chất lượng chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà mẹ dân tộc thiểu số Khmer tại vùng ven biển huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Bằng việc phối hợp chặt chẽ giữa thiết kế can thiệp có nhóm chứng với nghiên cứu định tính và vận dụng sáng tạo khung lý thuyết PRECEDE - PROCEED, đề tài đã chứng minh tính hiệu quả của các giải pháp truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh, thích ứng văn hóa và ngôn ngữ Khmer. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chính sách, hoàn thiện các can thiệp y tế cơ sở nhằm giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em và thu hẹp bất bình đẳng sức khỏe tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.