Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thươngViệt Nam – Chi nhánh TP Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh TP Hà Nội 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng thƣơng mại cũng chịu ảnh hƣởng của rất nhiều loại rủi ro phức tạp.Rủi ro trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến, làm giảm thu nhập hoặc giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại có thể đƣợc phân theo các tiêu chí sau đây: Phân loại theo tính chất rủi ro bao gồm: +Rủi ro tài chính là những rủi ro gây ra tổn thất về mặt tài chính cho ngân hàng, ngân hàng có thể đo lƣờng đƣợc giá trị mất mát từ những tổn thất này, chẳng hạn rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất… + Rủi ro phi tài chính là những rủi ro gây ra thiệt hại cho ngân hàng nhƣng khó đo lƣờng đƣợc tổn thất từ đó, chẳng hạn rủi ro danh tiếng, rủi ro pháp lý Phân loại theo nguồn gốc xuất hiện của rủi ro có các loại rủi ro sau đây: + Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xuất hiện trong các giao dịch giữa ngân hàng và đối tác của ngân hàng, trong đó chủ yếu là giao dịch tín dụng giữa ngân hàng và ngƣời vay. + Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất phát từ sự biến động bất lợi của lãi suất thị trƣờng tác động lên cấu trúc giữa tài sản nợ và tài sản có tại ngân hàng.
Rủi ro lãi suất xuất hiện ở tất cả những hoạt động có liên quan đến thu nhập từ lãi và chi phí lãi của ngân hàng +Rủi ro tỷ giá hối đoái là loại rủi ro xuất phát từ sự biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái giữa đồng bản tệ và ngoại tệ tác động lên trạng thái ngoại hối của ngân hàng.Rủi ro ngoại hối xuất hiện trong tất cả các hoạt động làm phát sinh việc mua bán ngoại tệ của ngân hàng. 5 + Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nhu cầu rút tiền, vay tiền của khách hàng hoặc đáp ứng đƣợc nhƣng với một chi phí bỏ ra tốn kém từ đó dẫn đến giảm lợi nhuận của ngân hàng.Rủi ro thanh khoản có thể là hậu quả của các loại rủi ro tín dụng, lãi suất, hối đoái nêu trên Phân loại theo quan điểm của ủy ban Basel gồm có các loại: + Rủi ro thị trƣờng, bao gồm các loại cụ thể nhƣ rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk), rủi ro ngoại hối (Foreign Currency Risk), rủi ro vốn (Equity Risk), rủi ro quyền chọn (Option Risk), rủi ro hàng hóa (Commodity Risk). Rủi ro thị trƣờng đƣợc hiểu là khả năng tổn thất xảy ra trong và ngoài bảng cân đối kế toán (Balance Sheet) của ngân hàng phát sinh từ các biến động giá trên thị trƣờng. Rủi ro thị trƣờng là cộng gộp của các loại rủi ro bộ phận đã nêu trên.
+ Rủi ro tín dụng (Credit Risk) là khả năng xảy ra tổn thất khi có sự vi phạm từphía đối tác của ngân hàng. Theo quan điểm của Ủy ban Basel thì rủi ro tín dụng có thể hiểu là rủi ro đối tác (Counterparty Risk) xuất hiện khi có sự vi phạm các thỏa thuận giữa ngân hàng và đối tác trong giao dịch của họ. + Rủi ro hoạt động/ tác nghiệp (Operational Risk) đƣợc hiểu là khả năng xảy ratổn thất do các nguyên nhân nội bộ (quy trình, hệ thống, vận hành…) và nguyên nhân khách quan bên ngoài (nhƣ gian lận). Ngoài các tiêu chí phân loại nhƣ kể trên, tùy từng điều kiện cụ thể, ngân hàng có thể áp dụng các cách phân loại rủi ro khác nhau ra phục vụ cho công tác quản trị hoạt động của ngân hàng.Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt đƣợc quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng mà còn trong toàn nền kinh tế.
Theo quan niệm của ủy ban Basel thì “Rủi to tín dụng đƣợc định nghĩa một cách đơn giản là khả năng bên vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiên các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trongquan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác nhƣ đầu tƣ, phái sinh mà ngân hàng thực hiện.Tuy nhiên, nhƣ đã 6 giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay. Theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” –theoThông tƣ số 02/2013/TT-NHNNngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. Nhƣ vậy, từ nhiều định nghĩa khác nhau, đa dạng, có thể tóm lƣợc nội dung về rủi ro tín dụng nhƣ sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên đƣợc cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng có một số đặc điểm đặc trưng như: Rủi ro tín dụng mang tín bị động:Tổn thất tín dụng đối với ngân hàng chỉ xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân, tức trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Khách hàng là ngƣời trực tiếp sử dụng vốn vay, là ngƣời có đầy đủ thông tin về chất lƣợng và hiệu quả sử dụng vốn vay. Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thƣờng ở vào thế bị động, là ngƣời biết thông tin sau hoặc biết không chính xác, không đầy đủ về những khó khăn, thất bại của khách hàng trong kinh doanh nói chung và trong việc sử dụng vốn vay nói riêng, khiến cho ngân hàng thƣờng bị chậm trễ trong ứng phó. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Do tính chất đa dạng và phức tạp về khách hàng vay vốn, đối tƣợng cho vay, loại hình tín dụng, nguyên nhận và hậu quả…đã làm cho rủi ro tín dụng trở nên có tính chất đa dạng phức tạp.Chính sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng buộc các ngân hàng phải chú trọng nhiều hơn đến công tác quản trị rủi ro tín dụng, từ việc thiết lập chính sách tín dụng, sử dụng các công cụ quản trị rủi ro, đến quy trình quản trị trong khâu nhận diện, đánh giá, đo lƣờng, xử lý và kiểm soát rủi ro tín dụng.
7 Rủi ro tín dụng có tính chất tất yếu: Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng gắn liền với rủi ro, trong đó kinh doanh tín dụng cũng không phải là ngoại lệ. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động tín dụng dụng, ngân hàng dựa trên mối quan hệ “rủi ro – lợi nhuận” nhằm tìm ra những cơ hội đạt lợi nhuận tƣơng thích với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả nếu mức rủi ro mà ngân hàng chấp nhận là hợp lý, kiểm soát đƣợc và trong khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của ngân hàng.Phân loại rủi ro tín dụng 1.Phân loại theo nguồn gốc phát sinh Biểu đồ 1.1:Phân loại rủi ro tín dụng theo nguồn gốc phát sinh *Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay,đánh giá khách hàng.Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ những tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay,các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của TSĐB.
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay,bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lý 8 các khoản vay có vấn đề. * Rủi ro danh mục : là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục đƣợc chia làm hai loại: - Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.Nó xuất phát tù đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.Phân loại theo cấp độ rủi ro Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng thời hạn đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác khách hàng đã trì hoãn trả nợ.
Rủi ro mất vốn: là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ buộc ngân hàng phải thanh lý TSBĐ để thu nợ. Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí nợ khó đòi và chi phí giám sát, đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng.