Chương 1: Cở sở lý luận về rủi ro hoạt động và quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng rủi ro hoạt động và quản trị rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam. Chương 3: Định hướng phát triển và giải pháp hoàn thiện quản quản trị rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm về rủi ro hoạt động Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức trung gian tài chính đặc biệt, đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế, làm cầu nối giữa các cá nhân, doanh nghiệp với thị trƣờng, giúp nguồn vốn đƣợc sử dụng một cách có hiệu quả hơn. Hơn nữa, ngân hàng còn là một kênh giúp nhà nƣớc điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đầy tài chính tiền tệ quốc tế. Trƣớc sự hội nhập sâu và rộng của các nền kinh tế trên thế giới, các ngân hàng đã không ngừng tăng lên cả về chất và lƣợng. Số lƣợng các ngân hàng, chi nhánh tăng lên, các hoạt động ngân hàng cũng đa dạng, phức tạp hơn đồng nghĩa việc nguy cơ gặp rủi ro trong ngân hàng cũng sẽ cao hơn.
Trong đó rủi ro hoạt động (RRHĐ) là loại rủi ro phổ biến, gắn liền với đặc điểm kinh doanh trên lĩnh vực rủi ro của ngân hàng và có thể ảnh hƣởng nghiêm trọng tới uy tín, thƣơng hiệu của các ngân hàng. Do đó RRHĐ ngày càng đƣợc các nhà quản lý ngân hàng quan tâm và đƣợc xếp thành một trong ba nhóm rủi ro chính trong hoạt động ngân hàng: Rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng và rủi ro hoạt động. RRHĐ là khả năng xảy ra tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do con ngƣời, quy trình, hệ thống không đầy đủ hoặc đƣợc thiết lập đầy đủ nhƣng hoạt động không hiêu quả, hoặc do các sự kiện bên ngoài gây ra. Có thể hiểu RRHĐ là rủi ro phát sinh do sự cẩu thả, gian lận của con ngƣời, sự yếu kém trong hệ thống thông tin hay sự sơ hở, thiếu các quy trình quy định của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM).
Theo Basel II, RRHĐ là rủi ro gây ra tổn thất do các quy trình, hệ thống, nhân viên trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc không đầy đủ, hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài. RRHĐ bao gồm rủi ro pháp lý nhƣng không bao gồm rủi ro chiến lƣợc và rủi ro danh tiếng. Nhƣ vậy, RRHĐ là loại rủi ro rất phổ biến, có thể xảy ra do các nguyên nhân từ bên trong ngân hàng (gian lận nội bộ, lỗi quy trình, hệ thống… ) và các nguyên nhân từ 5 bên ngoài ngân hàng (trộm cắp, khách hàng lừa đâỏ…. Hơn nữa, RRHĐ có thể xảy ra ở tất cả các nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Hoạt động của các ngân hàng càng mở rộng, càng phức tạp thì nguy cơ xảy ra RRHĐ càng cao. RRHĐ có thể ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới uy tín và lợi nhuận của các NHTM. Đặc điểm của rủi ro hoạt động RRHĐ có một số đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất, RRHĐ là những rủi ro tiềm ẩn và thường xuyên thay đổi: Nhân tố con ngƣời là nguyên nhân chủ yếu gây ra RRHĐ, mà hành vi của con ngƣời thì rất đa dạng, và không ngừng biến đổi. Vì vậy, RRHĐ có thể xảy ra dƣới nhiều dạng thức, thời điểm khác nhau và có thể thay đổi rất nhiều theo thời gian nên việc xác định những dấu hiệu đặc trƣng để dự đoán trƣớc RRHĐ là điều rất khó khăn.
Chỉ cần một lỗi nhỏ trong quy trình hay một sơ suất của cán bộ ngân hàng cũng có thể gây ra hậu quả rất lớn cho ngân hàng. Hơn nữa, số lƣợng lỗi liên quan tới RRHĐ luôn không ổn định trong một khoảng thời gian xác định, phạm vi và thời gian xảy ra RRHĐ là rất khác nhau. Thứ hai, RRHĐ tồn tại trong mọi sản phẩm, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng: RRHĐ là những rủi ro tiềm ẩn nên việc dự đoán và phòng tránh RRHĐ chỉ đem lại hiệu quả nhất định. Các ngân hàng phải chấp nhận chịu rủi ro và đây cũng là đặc trƣng của hoạt động ngân hàng khi kinh doanh trên lĩnh vực rủi ro.
Tùy theo mức độ phức tạp và quy mô của sản phẩm mà tần suất xảy ra rủi ro hoạt động là nhiều hay ít, hậu quả gây ra nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng. Nghiệp vụ ngân hàng càng phức tạp, càng cần nhiều đối tƣợng tham gia thì nguy cơ xảy ra rủi ro hoạt động càng cao. Do vậy RRHĐ luôn gắn liền với các sản phẩm và hiện hữu trong mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thứ ba, RRHĐ thường gây ra tác động thứ cấp: Việc RRHĐ xảy ra không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của ngân hàng mà còn ảnh hƣởng tới uy tín và thƣơng hiệu của chính ngân hàng đó.
Khi lỗi RRHĐ xảy ra, ngân hàng có thể đối mặt với hiện tƣợng mất khách hàng, uy tín bị giảm sút và nghiêm trọng hơn có thể phải chịu phí phạt hay chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nếu nhƣ lỗi đó vi phạm tới pháp luật. Nói cách khác, tác động thứ cấp dễ thấy nhất của RRHĐ đó là rủi ro uy tín và rủi ro pháp lý. 6 Do có những đặc điểm đặc thù nên nếu so sánh với rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng thì RRHĐ khác nhau ở một số điểm cơ bản sau: Một là, RRHĐ là rủi ro tiềm ẩn nên về cơ bản thƣờng không dự đoán trƣớc đƣợc có thể xảy ra ở phạm vi và nhiều thời điểm khác nhau, không có một quy luật cụ thể nào giữa các sự kiện RRHĐ. Vì vậy, rất khó để có thể đo lƣờng và xác định đƣợc chính xác RRHĐ.
Ngƣợc lại, các rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng có thể dễ dàng đƣợc tính toán và dựa trên những dấu hiệu rủi ro đặc thù. Hai là, RRHĐ thƣờng không đƣợc các ngân hàng đón nhận một cách tự nguyện. Nếu nhƣ rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng thƣờng đƣợc các ngân hàng chấp nhận bởi tính quy luật “rủi ro cao - lợi nhuận cao” thì RRHĐ lại không đƣợc các ngân hàng sẵn sàng chấp nhận. RRHĐ có thể gây ra tổn thất rất lớn cho các ngân hàng nhƣng lại không đem lại lợi nhuận gì cho ngân hàng.
Các ngân hàng phải chấp nhận RRHĐ nhƣ bản chất của hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố rủi ro. Ba là, RRHĐ thƣờng bị trùng lắp với rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng trong quá trình phân loại. Do RRHĐ thƣờng xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau và những nguyên nhân gây ra RRHĐ cũng đồng thời có thể cũng gây ra rủi ro tín dụng hoặc rủi ro thị trƣờng. Ví dụ nhƣ trƣờng hợp nhân viên ngân hàng do quen biết khách hàng vay, dù biết họ không đủ khả năng chi trả nhƣng vẫn cố tình làm hồ sơ giả mạo cho vay khách hàng đó.
Tới khi khách hàng không trả đƣợc nợ, khoản tín dụng mất khả năng thu hồi đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng đã xảy ra. Nhƣ vậy, nguyên nhân sâu xa dẫn tới rủi ro tín dụng là do rủi ro hoạt động, nhân viên cố tình vi phạm dẫn tới không thu hồi đƣợc khoản vay. Các nguyên nhân và hậu quả của rủi ro hoạt động 1. Các nguyên nhân gây ra rủi ro hoạt động Có rất nhiều nguyên nhân gây ra RRHĐ nhƣng các NHTM thƣờng chia các nguyên nhân gây ra RRHĐ từ hai nhóm: Rủi ro từ bên trọng nội bộ ngân hàng và rủi ro từ các yếu tố bên ngoài ngân hàng.
7 Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng a. Rủi ro từ các quy định, quy trình nghiệp vụ RRHĐ xảy ra do các quy định, quy trình nghiệp vụ có nhiểm điểm bất cập, nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ gian lợi dụng và gây thiệt hại cho ngân hàng. Các quy định, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng là những thao tác không đổi mà các nhân viên ngân hàng bắt buộc phải tuân theo. Đây là cơ sở, là khung xƣơng sống đảm bảo cho bộ máy hoạt động của ngân hàng đƣợc trơn tru và an toàn.
Tuy nhiên nếu các quy định đó không đủ chặt chẽ, không rõ ý có thể khiến cho các cán bộ ngân hàng thực hiện không đúng hoặc cố tình lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng. Mặt khác, nếu các quy trình nghiệp vụ quá phức tạp, phải trải qua rất nhiều thủ tục cũng gây khó khăn cho cán bộ ngân hàng khi thực hiện và có thể gây ra RRHĐ. Quy trình nghiệp vụ phức tạp, khó hiểu khiến cán bộ ngân hàng thực hiện sai gây ra lỗi hay quy trình càng phức tạp cần nhiều ngƣời tham gia thì càng dễ dẫn tới RRHĐ. Hơn nữa, các quy trình nghiệp vụ thƣờng xuyên thay đổi khiến các nhân viên ngân hàng chƣa quen với quy trình mới cũng sẽ gây ra RRHĐ cho ngân hàng.
Việc ứng dụng, cập nhật các chƣơng trình mới vào quy trình nghiệp vụ một mặt có thể giúp hiện đại hóa mô hình hoạt động, đơn giản hóa các thủ tục, việc quản lý ngân hàng cũng dễ hơn nhƣng mặt khác các nhân viên sẽ chƣa quen với chƣơng trình mới nên trong giai đoạn đầu triển khai có thể rất dễ gây ra RRHĐ. Rủi ro từ cán bộ ngân hàng gây nên. Con ngƣời là nhân tố chính tham gia vào các quy trình nghiệp vụ ngân hàng. Vì vậy, con ngƣời cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến gây ra RRHĐ cho các ngân hàng thƣơng mại.
Các hành vi của nhân viên ngân hàng có thể gây ra RRHĐ cho ngân hàng: - Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không đƣợc ủy quyền hoặc phê duyệt vƣợt quá thẩm quyền cho phép. Ở một số ngân hàng, nghiệp vụ bảo lãnh không thuộc phạm vi ủy quyền của trƣởng phòng quan hệ khách hàng cho phó phòng, tuy nhiên phó phòng lại thực hiện phê duyệt bảo lãnh cho khách hàng. Điều này đã vi phạm quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng.