Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG VÀ PTCĐ 1. Phương pháp luận tiếp cận hệ thống và các hình thức tham gia trong QLTN bền vững Trong những năm gần đây thực tế về quản lý tài nguyên rừng đặt ra cho chúng ta những cách nhìn mới. Làm thế nào để quản lý bền vững nguồn tài nguyên hiện có và phát triển mới nhằm không ngừng nâng cao độ che phủ của rừng, bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá.
Chính vì vậy chúng ta phải có cách tiếp cận mới. * Tiếp cận hệ thống Gần đây, khái niệm về hệ thống được dùng phổ biến trong phát triển nông lâm nghiệp. Muốn hiểu rõ "tiếp cận hệ thống" thì cần tìm hiểu "hệ thống" và "tư duy hệ thống".Jamieson hệ thống là cái gì đó có ít nhiều bộ phận liên hệ với nhau hay hệ thống là tập hợp những quan hệ tồn tại dai dẳng với thời gian, như vậy các thành tố trong hệ thống không tồn tại độc lập mà nó có mối quan hệ hữu cơ với nhau [32]. Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại với nhau.
Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết tạo thành một chỉnh thể và nhờ đó đặc tính mới gọi là "tính trồi"émergence) của hệ thống [23], [34].Lemoinge (1978) cho rằng: "hệ thống là một đối tượng vận động, có cấu trúc, có diễn biến so với những mục đích trong một môi trường nhất định". Khái niệm này nhấn mạnh đặc tính cần làm sáng tỏ của hệ thống là: cấu trúc, quan hệ, động thái và môi trường bao quanh [42]. Theo Đào Thế Tuấn (1988) quan điểm hệ thống là phương pháp nghiên cứu khoa học, là sự khám phá đặc điểm của hệ thống bằng cách nghiên cứu hệ thống bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các thành tố [33]. Lý thuyết về hệ thống nhấn mạnh đến sự cần thiết của cách nhìn mọi sự việc và hiện tượng như một thể thống nhất, chứ không phải con số cộng đơn thuần của các hợp phần rời rạc, có sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần trong quá trình vận động từ đầu vào đến đầu ra và có sự phân cấp thứ bậc.
Như 4 vậy có thể thấy mọi hệ thống đều là một phần của hệ thống lớn hơn và đến lượt mình lại gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành. Lý thuyết hệ thống ngày càng được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ. Trong thời gian gần đây tiếp cận hệ thống đã được áp dụng và phát triển trong nghiên cứu nông lâm nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên [20], [32], [41]. Jameison (1996), nếu chúng ta tách riêng từng bộ phận và nghiên cứu từng bộ phận một thì dù nghiên cứu tỷ mỹ đến đâu, đấy cũng chưa phải là tư duy hệ thống.
Vấn đề chính là quan hệ mà không phải là bộ phận. Toàn bộ hệ thống hơn tổng số các bộ phận bởi vì hệ thống có tổ chức. Như vậy các tác giả đều thống nhất rằng vấn đề chính trong hệ thống là quan hệ của các thành tố. Ngoài những yếu tố bên trong, các yếu tố bên ngoài hệ của thống không nằm trong hệ thống nhưng có tác động tương tác với hệ thống gọi là yếu tố môi trường.
Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống là yếu tố "đầu vào", còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống là yếu tố "đầu ra" [20], [32], [34]. Trong thực tiễn nghiên cứu hệ thống có hai phương pháp cơ bản: thứ nhất nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến một hệ thống đã có sẵn. Điều đó có nghĩa là dùng phương pháp phân tích hệ thống nhằm tìm ra điểm "hẹp" hay chỗ "thắt lại" của hệ thống, đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần được sửa chữa, khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn. Thứ hai nghiên cứu xây dựng hệ thống mới.
Đây là phương pháp vĩ mô, đòi hỏi có sự tính toán, cân đối kỹ càng [30], [35]. Đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar ở huyện Lăk -Đăk Lăk” sẽ thực hiện phương pháp thứ nhất, nghĩa là dùng phương pháp tiếp cận hệ thống để tìm ra điểm "thắt lại" của hệ thống tức là tìm những yếu tố hạn chế ảnh hưởng đến hệ thống quản lý tài nguyên hiện tại, từ đó tác động tạo "tính chồi" thúc đẩy hệ thống phát triển với các mục tiêu, nguồn lực "đầu vào", cấu trúc hệ thống và yếu tố "đầu ra". Trong phát triển xã hội người ta nói nhiều đến thuật ngữ “Định chế” (institution) bao hàm một khái niệm rộng rãi. Một mặt nó diễn đạt các hệ thống 5 giá trị, luật lệ, qui tắc, qui chế, thành văn hay bất thành văn được các thành viên của một nhóm người nào đó tôn trọng và tuân thủ.Vùng đệm, lý thuyết phát triển và QLR cộng đồng.
Vùng đệm và vấn đề quản lý vùng đệm: Những năm gần đây, khái niệm vùng đệm (Buffer zone) của các Khu bảo tồn thiên nhiên bắt đầu được chú ý. Trước thực tế các khu bảo tồn thiên nhiên bị xuống cấp do bị tác động trên nhiều lĩnh vực. Trong quá trình hình thành hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, suốt một thời gian dài, hệ thống vùng đệm chưa được quan tâm một cách đúng mức. Đến năm 1993 Bộ Lâm nghiệp mới có văn bản số 1586 LN/KL ngày 13/7/1993 qui định về quản lý và sử dụng các vùng đệm của vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.
Tuy nhiên cho đến năm 1999 vẫn chưa có quy chế quản lý vùng đệm, quy định rõ ranh giới, về trách nhiệm quản lý, về mối quan hệ giữa ban quản lý Khu bảo tồn do vậy hiện trạng hiện có các Khu bảo tồn thiên nhiên thường không thống nhất, không dựa trên những tiêu chí thống nhất và thiếu những thể chế quản lý rõ ràng [2]. Khái niệm về vùng đệm: Là khu vực có rừng hay không có rừng, nằm sát ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên, có diện tích, ranh giới rõ ràng, thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương, các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn. Vùng đệm được thành lập nhằm nâng cao đời sống, văn hóa của nhân dân địa phương và lôi cuốn họ tham gia tích cực vào công tác bảo vệ khu bảo tồn [2]. Ranh giới của vùng đệm: Nên lấy ranh giới hành chính xã của các xã bao quanh khu bảo tồn.
Đối với những xã có diện tích lớn hơn 10.000 ha thì chỉ có thể chọn những thôn cận kề với với khu bảo tồn [2]. Chức năng của khu vùng đệm: Có vai trò như một chiếc áo giáp bảo vệ cho vùng lõi (khu bảo tồn thiên nhiên). Muốn làm tốt vấn đề này chỉ có con đường hợp tác chặt chẽ với cộng đồng dân cư ở vùng đệm, có những chính sách phù hợp, lôi kéo họ tham gia các hoạt động bảo tồn, giải quyết những nhu cầu cấp bách của họ mà không gây nguy hại đến mục tiêu của khu bảo tồn [2]. Khái niệm về phát triển cộng đồng: Khái niệm về phát triển cộng đồng được bắt đầu vào thập kỷ 50 và đã trải qua nhiều giai đoạn.
Năm 1970 Liên hiệp quốc đánh giá thập niên phát triển, kết quả cho thấy có nhiều tiến bộ rõ rệt 6 như sự thay đổi bộ mặt nông thôn nhưng cũng bộc lộ những hạn chế nhất định mới chỉ tạo nên những vỏ xác của cơ sở hạ tầng, chưa đáp ứng nhu cầu người dân. Sự tham gia của người dân theo nghĩa đích thực, nghĩa là vào quá trình ra quyết định, phát huy sáng kiến còn rất hạn chế. Một bài học đáng ghi nhớ là sự thất bại tất yếu của cách làm ồ ạt theo phong trào, áp dặt từ trên xuống. Sau đó phương hướng cơ bản của phát triển cộng đồng nhấn mạnh đến sự tham gia của quần chúng, cần phải xây dựng các thiết chế xã hội là công cụ, môi trường cho sự tham gia đồng thời nhấn mạnh đến thay đổi nhận thức, hành vi, sự chuyển biến về tổ chức và năng lực cho cộng đồng [20].
Cũng theo tác giả nguyên tắc của phát triển cộng đồng là phải khơi dậy tính nội sinh (endogène) hay nội lực từ bên trong cộng đồng, sự hỗ trợ bên ngoài là cần thiết nhưng chỉ là chất xúc tác, mọi chương trình hành động phải do cộng đồng tự quyết [20]. Quản lý rừng cộng đồng: Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một trong những loại hình quản lý rừng trên cơ sở tham gia và quyết định từ cộng đồng nhằm phát triển rừng bền vững. Điều quan trọng là hệ thống quản lý phải dựa trên tình hình cụ thể ở mỗi địa phương. Việc quản lý rừng dựa vào cộng đồng phải được áp dụng và kết hợp hài hoà với các thành phần liên quan khác (quản lý của Nhà nước, của tập thể hay của tư nhân) [39].
- Rừng cộng đồng là một kiểu quản lý rừng thích hợp cho những vùng có điều kiện như: + Vùng sâu vùng xa, cuộc sống người dân địa phương phần lớn phụ thuộc vào rừng. + Vùng cao với cơ sở hạ tầng thấp kém. Việc quản lý đất rừng cũng nên áp dụng một cách linh hoạt và thích hợp để phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ thể ở từng địa phương. + Có kiến thức bản địa và truyền thống tổ chức cộng đồng cao.
+ Có sự quan tâm của cộng đồng trong quản lý nguồn tài nguyên vì lợi ích chung và có thể được phát hoạ một cách rõ ràng. Cộng đồng thôn buôn đóng vai trò quan trọng trong sự khôi phục và bảo vệ rừng. Các tổ chức thôn buôn đã thực sự mang lại lợi ích cho cộng đồng của mình thông qua thực hiện một cách hiệu quả các luật lệ bảo vệ rừng ở thôn 7 buôn (Nguyễn Hải Nam và những người khác, 2000) [40]. Hơn nữa rừng thực sự có khả năng phục hồi trong một chu kỳ nương rẫy của dân tộc thiểu số.
Điều này cho thấy kinh nghiệm của đồng bào trong canh tác nương rẫy theo chu kỳ là rất quý báu, rừng và đất rừng được phục hồi tốt trước khi trở lại chu kỳ sau, đảm bảo tính ổn định trong hệ sinh thái canh tác nương rẫy, đất đai được sử dụng khép kín (Bảo Huy, 1998) [12].