Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar được thành lập theo Quyết định số 182/QĐ/KL với tổng diện tích vùng lõi là 24.555 ha, đóng vai trò như một lá chắn sinh thái xung yếu và phòng hộ đầu nguồn cho lưu vực sông Krông Nô thuộc hệ thống sông Mê Kông. Nhằm bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi, quy hoạch vùng đệm được xác lập trên địa bàn 5 xã thuộc hai huyện Krông Ana và Lăk thuộc tỉnh Đắk Lắk với tổng diện tích tự nhiên đạt 7.300 ha. Mặc dù diện tích đất có rừng trong vùng đệm đạt 4.311,2 ha (chiếm 83,03% diện tích đất lâm nghiệp), hệ sinh thái tại đây đang chịu áp lực tàn phá nặng nề khi sinh kế của 12.497 lao động địa phương phụ thuộc trực tiếp vào việc khai thác tài nguyên tự nhiên. Tình trạng nghèo đói diễn ra nghiêm trọng với tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn vùng đệm là 21,17%, đặc biệt tại xã vùng sâu Đăk Nuê con số này lên tới 62,08% (tương ứng 542 hộ nghèo).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn gay gắt giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học nghiêm ngặt và nhu cầu mưu sinh cấp bách của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ như M'nông, Ê Đê. Tình trạng du canh du cư và tập quán đốt nương làm rẫy đã khiến hơn 470,9 ha đất lâm nghiệp bị biến thành đất sản xuất nương rẫy trái phép, trong khi mỗi năm khu bảo tồn bị xâm lấn trên 50 ha rừng tự nhiên. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, thể chế quản lý hiện hành; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) gắn với các mô hình kinh tế nông lâm kết hợp bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 5 xã vùng đệm, lấy xã Đăk Nuê làm địa bàn nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu trong giai đoạn 2006-2007. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc thiết lập các giải pháp can thiệp nhằm phục hồi 880,9 ha đất trống chưa có rừng, hạn chế triệt để 202 vụ vi phạm lâm luật ghi nhận trong giai đoạn 2004-2006 và nâng cao thu nhập ổn định cho hàng nghìn hộ gia đình địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết tiếp cận hệ thống (System Theory) làm nền tảng cốt lõi, xem xét mối quan hệ hữu cơ đa chiều giữa các phân hệ sinh thái rừng, kinh tế hộ gia đình, văn hóa bản địa và thể chế quản lý nhà nước. Dưới góc nhìn này, một hệ thống rừng bền vững chỉ đạt được khi tháo gỡ thành công các điểm nghẽn về thể chế và sinh kế nhằm tạo ra tính trồi phát triển cho toàn khu vực. Song song đó, lý thuyết phát triển cộng đồng (Community Development) và quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) được tích hợp nhằm khẳng định nguyên tắc khơi dậy nội lực nội sinh. Cộng đồng địa phương không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải đóng vai trò chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định, lập quy hoạch và phân chia lợi ích.

Khung phân tích sự tham gia của cộng đồng được vận dụng dựa trên 4 cấp độ tăng dần: cấp độ hợp đồng, tham vấn, hợp tác và tự giác. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng mô hình đánh giá 4 khía cạnh hành vi cộng đồng gồm mức độ tiếp nhận thông tin, thái độ chia sẻ trách nhiệm, nguyện vọng cải thiện kinh tế và hành động bảo vệ rừng thực tế. Hệ thống khái niệm chính trong luận văn bao gồm: vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên (vành đai phòng hộ sinh thái và xã hội bảo vệ vùng lõi), lâm nghiệp xã hội, định chế lâm nghiệp (hệ thống luật tục, hương ước và quy định pháp lý) và quyền hưởng lợi từ rừng. Khung pháp lý nền tảng bao gồm Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995 về giao khoán rừng, Nghị định số 163/1999/CP về giao đất lâm nghiệp, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg về quyền hưởng lợi và Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, kết hợp cùng Quyết định số 49/2006/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp từ Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar, Hạt Kiểm lâm huyện Lăk, Chi cục Thống kê và Ủy ban nhân dân 5 xã vùng đệm. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA). Cỡ mẫu điều tra chuyên sâu gồm 30 hộ gia đình kết hợp tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung tại buôn PaipiJơl (xã Đăk Nuê), đồng thời mở rộng phỏng vấn 50 hộ dân bằng bảng hỏi bán cấu trúc nhằm khảo sát chính xác nhu cầu sử dụng gỗ gia dụng và củi đốt. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên 5 tiêu chí: quy mô lao động, diện tích đất canh tác, nguồn vốn đầu tư, mức thu nhập và kinh nghiệm sản xuất của hộ gia đình (phân thành 3 nhóm: khá, trung bình và nghèo).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế kết hợp giữa phương pháp tĩnh và phương pháp động là nhằm đánh giá chuẩn xác tính khả thi tài chính của các mô hình nông lâm kết hợp trong điều kiện sản xuất dài hạn có tính đến biến động thời gian và giá trị đồng tiền. Các chỉ tiêu động được tính toán bao gồm: giá trị hiện tại thu nhập ròng (NPV) với tỷ lệ chiết khấu cố định i = 7%/năm, tỷ suất thu hồi nội bộ (IRR), tỷ số thu nhập trên chi phí (BCR) và chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp (ECt). Bên cạnh đó, các thuật toán ngoại suy tuyến tính được sử dụng để dự báo quy mô dân số và tốc độ tăng số hộ gia đình vùng đệm đến năm 2010. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai thực hiện từ tháng 6 năm 2006 đến tháng 7 năm 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát thực địa cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên vùng đệm là 7.300 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 5.192,1 ha. Diện tích đất có rừng đạt 4.311,2 ha (chiếm 83,03% đất lâm nghiệp), còn lại 880,9 ha là đất trống đồi núi trọc không có rừng (chiếm 16,97%). Trong cơ cấu các kiểu thảm thực vật, trạng thái rừng gỗ hỗn giao tre nứa chiếm diện tích lớn nhất với 2.881,3 ha (66,83% đất có rừng), tiếp đến là rừng gỗ lá rộng thường xanh với 670,4 ha (15,55%), rừng trồng đạt 608,6 ha (14,14%) và rừng lồ ô, le thuần loại chiếm 150,9 ha (3,50%). Về mặt lâm học, kiểu rừng thường xanh trung bình (IIIA2) có trữ lượng đạt 165 m³/ha với mật độ 213 cây/ha và mật độ tái sinh tự nhiên đạt trên 4.000 cây/ha (tỷ lệ cây có triển vọng đạt 30%), trong khi kiểu rừng nghèo (IIIA1) chỉ đạt trữ lượng 78 m³/ha với mật độ 205 cây/ha.

Khu hệ sinh thái Nam Kar sở hữu tính đa dạng sinh học rất cao với 587 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 149 họ (trong đó có 382 loài cây dược liệu và 78 loài cây cảnh), cùng 140 loài chim, 56 loài thú và 50 loài bò sát, lưỡng cư. Tuy nhiên, áp lực khai thác từ cộng đồng dân cư đang đe dọa trực tiếp đến nguồn tài nguyên này. Khảo sát 50 hộ dân tại xã Đăk Nuê ghi nhận 54% số hộ chưa có nhà ở kiên cố và 74% có nhu cầu mua sắm tiện nghi gỗ. Bình quân mỗi hộ mới lập gia đình cần 10 m³ gỗ làm nhà và 0,8 m³ gỗ đóng bàn ghế, đưa tổng nhu cầu gỗ làm nhà toàn vùng đệm lên tới 2.050 m³ gỗ tròn. Bên cạnh đó, 100% hộ dân sử dụng củi đun với định mức bình quân 15 kg/ngày/hộ, dẫn đến tổng lượng củi tiêu thụ hàng ngày lên tới 26.445 kg (tương đương khối lượng 259,34 m³ gỗ đặc quy đổi). Về mặt an ninh rừng, trong giai đoạn 2004-2006, các lực lượng tuần tra đã phát hiện và lập biên bản 202 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 1.492 bẫy thú rừng, thu giữ 20 khẩu súng săn tự chế và giải cứu 75 cá thể động vật hoang dã.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy thoái tài nguyên rừng vùng đệm bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân kinh tế và xã hội đan xen. Về mặt kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo tại 5 xã vùng đệm ở mức cao 21,17%, riêng xã Đăk Nuê chiếm tới 62,08% (với 542 hộ nghèo). Thu nhập của người dân thuần túy dựa vào nông nghiệp độc canh cây ngắn ngày trên diện tích đất sản xuất hạn chế (tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn vùng chỉ có 1.454 ha, trong đó nương rẫy chiếm tới 470,9 ha). Tập quán canh tác nương rẫy trên sườn dốc cùng với áp lực gia tăng dân số tự nhiên ở mức 1,82%/năm (dự báo quy mô dân số đạt 27.868 người vào năm 2010) đã thúc đẩy làn sóng lấn chiếm rừng tự nhiên để lấy đất sản xuất với diện tích mất rừng vượt 50 ha mỗi năm.

Để minh họa trực quan các kết quả lâm học và cấu trúc tài nguyên, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ phân bố đường kính (D) và chiều cao (H) theo từng trạng thái rừng từ IIA đến IIIA2, kết hợp sơ đồ phân bố cơ cấu sử dụng đất dạng biểu đồ tròn nhằm làm nổi bật tỷ trọng 66,83% của kiểu rừng hỗn giao gỗ xen tre nứa. Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại Đắk Lắk và Đồng bằng sông Cửu Long, kết quả của luận văn khẳng định sự tương đồng: việc quản lý bảo tồn theo phương thức quản lý tập trung từ trên xuống (top-down) hoàn toàn không mang lại hiệu quả bền vững nếu thiếu cơ chế chia sẻ quyền lợi thực chất cho người dân bản địa. Việc chỉ dừng lại ở các biện pháp ngăn chặn hành chính mà không giải quyết bài toán sinh kế, đất sản xuất và củi đốt sẽ đẩy người dân vào thế đối đầu với lực lượng kiểm lâm. Do đó, việc chuyển đổi sang mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng theo tinh thần Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg là hướng đi tất yếu để vừa bảo vệ 4.311,2 ha rừng hiện có, vừa ổn định đời sống cho 12.497 lao động địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar được xây dựng đồng bộ qua 4 chương trình hành động trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng. Ủy ban nhân dân huyện Lăk phối hợp với Ban Quản lý Khu bảo tồn Nam Kar tiến hành rà soát, bàn giao 880,9 ha đất trống đồi núi trọc (gồm 85 ha trảng cỏ Ia, 688,5 ha cây bụi Ib và 107,4 ha cây gỗ rải rác Ic) cho các cộng đồng thôn buôn quản lý theo Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg. Phấn đấu ký kết hợp đồng khoán bảo vệ rừng thêm 3.500 ha cho các hộ đồng bào M'nông, Ê Đê, bảo đảm 100% hộ dân nhận khoán được cấp giấy chứng nhận và hưởng trọn vẹn quyền lợi lâm sản phụ theo Quyết định số 49/2006/QĐ-UBND tỉnh Đắk Lắk, hoàn thành trong giai đoạn 2007-2008.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp. Phòng Kinh tế và Trạm Khuyến nông huyện Lăk chủ trì chuyển đổi 470,9 ha đất nương rẫy bạc màu sang mô hình trồng điều ghép cao sản (mục tiêu mở rộng diện tích điều từ 228,7 ha hiện có) xen cây họ đậu và cỏ chăn nuôi. Đẩy mạnh trồng 608,6 ha rừng kinh tế với các loài cây mọc nhanh như keo lá tràm, xoan nhằm bảo đảm chỉ số sinh lời BCR đạt trên 1,5 và NPV dương sau 5 năm canh tác, giúp tăng thu nhập hộ gia đình lên trên 20 triệu đồng/năm.

Thứ ba, thể chế hóa hương ước bảo vệ rừng gắn với tri thức bản địa. Chính quyền 5 xã vùng đệm cùng Ban Quản lý Khu bảo tồn hỗ trợ các già làng, trưởng buôn xây dựng và thực thi hương ước bảo vệ rừng tại 100% thôn buôn. Thành lập các tổ tuần tra rừng tự quản thôn bản, trích tối thiểu 30% nguồn thu phí dịch vụ môi trường rừng và tiền hỗ trợ khoán bảo vệ để chi trả thù lao cho lực lượng tuần tra cộng đồng giai đoạn 2007-2010.

Thứ tư, triển khai các giải pháp an sinh xã hội và năng lượng sinh học thay thế. Ủy ban nhân dân các xã phối hợp với các tổ chức phát triển hỗ trợ xây dựng nhà ở kiên cố nhằm giảm tải nhu cầu 2.050 m³ gỗ làm nhà, đồng thời chuyển giao kỹ thuật xây dựng hầm khí biogas và phổ biến bếp đun cải tiến tiết kiệm củi nhằm cắt giảm 30% định mức tiêu thụ 26.445 kg củi/ngày trên toàn vùng đệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia và các Công ty lâm nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên. Luận văn cung cấp quy trình bài bản để xây dựng phương án đồng quản lý tài nguyên vùng đệm, chuyển đổi xung đột bảo tồn thành cơ chế hợp tác chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phương trên quy mô diện tích từ 7.000 đến 25.000 ha.

Nhóm thứ hai là các Cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực về 5.192,1 ha đất lâm nghiệp và hệ thống số liệu kinh tế hộ, phục vụ đắc lực cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất, phân bổ hạn ngạch giao đất khoán rừng theo Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg và Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

Nhóm thứ ba là các Tổ chức phi chính phủ (NGOs), các chuyên gia phát triển nông thôn và tổ chức tài trợ quốc tế. Luận văn là một case study điển hình ứng dụng hiệu quả bộ công cụ PRA/RRA, cung cấp các chỉ số tài chính định lượng (NPV với i = 7%, IRR, BCR) phục vụ việc thiết kế các dự án viện trợ sinh kế gắn với bảo tồn thiên nhiên.

Nhóm thứ tư là các Giảng viên, Nghiên cứu sinh, Học viên cao học và Sinh viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế nông lâm nghiệp. Tài liệu này là nguồn tham khảo mẫu mực về phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp điều tra đánh giá trữ lượng lâm phần kết hợp phân tích xã hội học nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng mang lại lợi ích kinh tế cụ thể nào cho người dân vùng đệm Nam Kar? Mô hình giúp người dân nhận khoán bảo vệ 3.500 ha rừng, được hưởng lợi trực tiếp từ lâm sản ngoài gỗ và sản phẩm tỉa thưa theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg. Các mô hình nông lâm kết hợp như trồng 228,7 ha điều ghép và rừng kinh tế keo lai bảo đảm NPV dương với tỷ suất sinh lời BCR trên 1,5, giúp 1.220 hộ nghèo cải thiện thu nhập bền vững.

Hệ thực vật và động vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có những đặc trưng sinh thái nổi bật nào? Khu hệ thực vật Nam Kar sở hữu 587 loài thực vật bậc cao (với 382 loài cây thuốc quý như ngũ gia bì, thiên niên kiện và 78 loài cây cảnh). Khu hệ động vật ghi nhận 140 loài chim, 56 loài thú và 50 loài bò sát, lưỡng cư, trong đó có nhiều loài nguy cấp như voi, bò tót, gấu ngựa, vượn đen sinh sống trong 4.311,2 ha đất có rừng.

Phương pháp nào được tác giả sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình cây trồng? Tác giả kết hợp phương pháp tĩnh và phương pháp động để phân tích dòng tiền sản xuất. Các chỉ tiêu động bao gồm hiện giá thu nhập ròng (NPV) tính theo lãi suất chiết khấu 7%/năm, tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR), tỷ số thu nhập trên chi phí (BCR) và chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp (ECt) nhằm lựa chọn cây điều và keo lá tràm làm cây trồng chủ lực.

Vì sao xã Đăk Nuê được chọn làm địa bàn nghiên cứu trọng điểm cho mô hình quản lý rừng cộng đồng? Xã Đăk Nuê có diện tích rừng lớn (2.881,3 ha rừng hỗn giao và 608,6 ha rừng trồng) nhưng lại là điểm nóng về suy thoái sinh thái với tỷ lệ hộ nghèo cao nhất vùng đạt 62,08% (542 hộ). Toàn xã có 272,4 ha đất nương rẫy trên sườn dốc và nhu cầu gỗ làm nhà của 54% hộ dân, mang tính đại diện cao cho các xung đột vùng đệm.

Giải pháp nào khả thi nhất để thay thế lượng củi đun tiêu thụ 26.445 kg mỗi ngày của người dân? Giải pháp hữu hiệu là tận dụng phế phụ phẩm từ 2.881,3 ha rừng hỗn giao tre nứa và diện tích tỉa thưa cây công nghiệp, kết hợp xây dựng hầm khí sinh học biogas tại các hộ chăn nuôi (toàn vùng có hàng trăm con trâu bò) và phổ biến bếp cải tiến giúp tiết kiệm 30% lượng chất đốt hàng ngày.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và ứng dụng thành công lý thuyết tiếp cận hệ thống cùng các cấp độ tham gia của cộng đồng vào quản lý 7.300 ha đất vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng 4.311,2 ha đất có rừng, đồng thời lượng hóa áp lực sinh kế từ 1.220 hộ nghèo với nhu cầu tiêu thụ 2.050 m³ gỗ làm nhà và 26.445 kg củi đốt mỗi ngày.
  • Chứng minh tính khả thi kinh tế của các mô hình nông lâm kết hợp trồng điều ghép và keo lai thông qua các chỉ số tài chính định lượng với mức lãi suất chiết khấu 7%/năm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm giao 880,9 ha đất trống cho cộng đồng, phát triển sinh kế nông lâm kết hợp, củng cố hương ước buôn làng và hỗ trợ an sinh năng lượng.
  • Xác lập lộ trình can thiệp giai đoạn 2007-2010 nhằm giảm thiểu triệt để 202 vụ vi phạm lâm luật, bảo vệ an toàn 24.555 ha vùng lõi khu bảo tồn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã gắn kết chặt chẽ giữa các chỉ tiêu kỹ thuật lâm học với bài toán sinh kế kinh tế hộ của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương và Ban Quản lý Khu bảo tồn Nam Kar sớm triển khai giao quyền quản lý rừng thực chất cho cấp thôn buôn. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy tải toàn văn công trình nghiên cứu để tham khảo chi tiết phương pháp luận và áp dụng các mô hình quản lý rừng bền vững vào thực tiễn địa phương.